Pics

Pics

2020/08/03

Chúng ta "Trùng tu" Đền-tháp Yang Praong như thế nào? hay "Nỗi Buồn Yang Praong"

Chúng ta "Trùng tu" Đền-tháp Yang Praong như thế nào?
hay "Nỗi Buồn Yang Praong"
***

*** Đền-tháp Yang Praong tọa lạc ở khu vực xã Ea Rôk, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk, được một trung úy lục quân người Lào tên là Oum phát hiện khoảng năm 1900.
Từ những khảo tả về phong cách nghệ thuật điêu khắc, lịch sử và bia kí được phát hiện tại đây, các nhà khoa học đồng thuận đi đến kết luận về niên đại dựng đền-tháp được xây dựng vào thế kỷ XIII.
Và qua việc nghiên cứu văn bia chúng ta xác định được chủ nhân đền-tháp thuộc về Champa, vị vua Harajit tức Jaya Simhavarman III, sử liệu Trung Quốc gọi là Pou Ti và người Việt gọi là Chế Mân là người đã cho dựng đền-tháp thờ thần Cri Jaya Shinhavarmalingecvara -thần Shiva mà người dân tại đây gọi là Bimong Yang Praong.
*** Trong cuốn "MONUMENTS CAMS DE L'ANNAM" của H.Parmentier được xuất bản năm 1909 khảo tả về các di tích Champa, tại trang 122 đính kèm ảnh chú bản vẽ khảo tả kiến trúc đền-tháp Yang Praong với bản vẽ mặt bằng và mặt đứng chi tiết, và cũng là bản vẽ tư liệu quan trọng và xác tín tính chân thực để có thể dùng trong công tác đối chiếu khảo tả, trùng tu di tích một cách chính xác nhất có thể.
Tuy nhiên, nhìn qua hai đợt trùng tu đối với đền tháp này ta thấy nhiều bất cập và sai phạm dẫn đến thay đổi hình dạng kiến trúc ban đầu, và bất chấp điều 5: “Phải bảo đảm tính nguyên gốc, tính chân xác, tính toàn vẹn; việc thay thế kỹ thuật, chất liệu cũ bằng kỹ thuật chất liệu mới phải được thí nghiệm trước để bảo đảm kết quả chính xác khi áp dụng...” trong Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử văn hoá đã được Bộ Văn hoá – Thông tin ban hành tại Quyết định 05/2003/QĐ-BVHTT.
Ta thử điểm qua vài mục nhỏ để cùng xem xét: (xem hình đính kèm)
(1) Về thay đổi hình dạng kiến trúc ban đầu: Đối chiếu giữa kết quả trùng tu với bản vẽ chi tiết mà H.P đã vẽ ra, chúng ta có thể thấy vài điềm sai phạm làm thay đổi hình dạng kiến trúc như sau:
- 03 mặt diện tường ở 03 hướng bắc-tây-nam tại ô rãnh giữa, các nhà trùng tu đã tự ý đắp thêm gạch không theo theo một motif nào có trước đó và hoàn toàn sai khác với tính nguyên bản có trước đó do H.P đã vẽ.
- Tại hướng cửa mở chính hướng đông, công tác trùng tu đã không giữ được tính nguyên bản, thay vào đó là các chi tiết đắp gạch làm sai khác hình thức kiến trúc, đã không thể phục hồi được tháp mái/hành lang dẫn vào tháp chính như bản vẽ mà H.P đã khảo tả trước đó.
- Tại góc cong mái tháp, các nhà trùng tu đã tự ý gắn thêm motif “Lưỡi/lá lửa” vào mái tháp này, và không rõ các nhà trùng tu của ta đã dựa vào phong cách nào để tự áp đặt cho phong cách tháp Yang Praong?
- Đã không gắn lại được chóp tháp bằng đá lên đỉnh mái tháp.
(2) Về phương pháp, biện pháp được áp dụng trong công tác trùng tu.
- Tại công tác trùng tu đối với đền-tháp Yang Praong, theo ghi nhận thì dường như các nhà trùng tu đã không dựa trên phương/biện pháp, hay tiêu chuẩn kĩ thuật phù hợp nào cụ thể để áp dụng mà chỉ dùng biện pháp xây tô cơ bản thường thấy trong công tác xây nhà ở với nhóm thợ xây tô địa phương, ví dụ như các nhà trùng tu đã lên phương án với vật liệu gạch nung mua ngoài cửa hàng, dùng vữa xi măng tô trét để gắn lại các viên gạch tạo nên những lở loét lem nhem, dùng xi măng để láng nền tháp,…dùng bê tông cốt thép để làm hệ đỡ vòm cửa tháp.
(3) Về công tác quản lí bảo vệ và khai thác đối với đền-tháp: Công tác quản lí và khai thác đã tồn tại nhiều bất cập, xảy ra nhiều trường hợp xâm hại tác động trực tiếp và làm xuống cấp nghiêm trọng đối với đền-tháp Yang Praong, như để xảy ra tình trạng người dân tự lập bàn thờ cúng không đúng tính chất, để xảy ra tình trang đốt nhang vô tội vạ từ bên trong ra đến ngoài tháp không phù hợp phong tục và văn hoá, trong khi đó khói nhanh là một tác nhân gây ra tình trạng xuống cấp nghiêm trọng đối với đền-tháp.
(4) v.v…

*** Chỉ sau chục năm, từ kết quả công tác trùng tu thì nay đền-tháp Yang Praong đã xuống cấp nghiêm trọng bởi phương-biện pháp trùng tu không phù hợp, với nguyên vật liệu và kĩ thuật “khác lạ” đã được các nhà trùng tu áp dụng. Qua đó cho thấy công tác trùng tu của ta quá hời hợt và xem nhẹ giá trị Di sản, các nhà trùng tu của ta đã không đánh giá được giá trị thực của Di sản và rõ ràng thiếu chuyên môn, không đủ năng lực trùng tu nhưng vẫn cố chấp, hay tham lam để đảm nhận công tác này.
Qua đây chúng ta cần xem xét và đánh giá lại một cách nghiêm túc lại chuyên môn, năng lực của mình để tránh gây xây hại, hay thiếu năng lực mà phá huỷ nhanh chóng hơn giá trị Di sản.
Di sản văn hoá Champa là một mảng ghép lớn hoà chung tạo nên dòng chảy lớn văn hoá-lịch sử của Việt Nam, nên trước các công tác có tác động lớn đến di sản văn hoá Champa chúng ta cần nghiêm túc chân thực.


Bản vẽ tháp Yang Proang (trong khung đỏ) do H.Parmentier vẽ, được dẫn lại trong cuốn "Monument Cams De L'Annam"



Hình phác thảo tháp Yang Proang

Tháp Yang Praong sau khi trùng tu đã đánh mất tính nguyên bản


Diện tường trùng tu sai và đã xuống cấp

Mái tháp đã xuống cấp nhanh chóng

Motif Lưỡi lửa đã nhổ bỏ đi sau công tác trùng tu

Sau khi trùng tu, đền-tháp Yang Praong đã xuống cấp nhanh chóng

Tự ý lập bàn thờ khác xa văn hoá Champa

Diện tường và mái tháp sau khi trùng tu đã đánh mất tính nguyên bản kiến trúc đền tháp Yang Praong.

Diện tường sau khi trùng tu sai với nguyên bản kiến trúc đền tháp Yang Praong.

2020/07/02

Từ [Mbaok “chuai” Anaih] cho đến [Mũi Né]

Từ [Mbaok “chuai” Anaih] cho đến [Mũi Né]
***


Liên quan đến địa danh [Mũi Né] thuộc thành phố Phan Thiết (Bình Thuận), đã có nhiều bài viết giải thích tên gọi địa danh này, tuy nhiên các giải thích vẫn chưa thoả, các ý xoay quanh nội dung mà trang Wikipedia có trích dẫn như sau:

      • Tên gọi Mũi Né xuất phát từ việc ngư dân đánh cá, mỗi khi đi biển gặp bão, thường đến đây nương náu. "Mũi" là cái mũi đất đưa ra biển lớn; "Né" có nghĩa là để né tránh, trốn thoát giông bão. Nơi đây có sự hài hòa giữa màu vàng của cát mịn, màu óng của nắng và màu xanh thẳm của biển cả đã tạo cảm giác ấm áp và trong lành, tuyệt vời thu hút hàng trăn ngàn du khách trong nước và quốc tế.
     • Tên gọi xuất phát từ công chúa Út của vua Chăm là công chúa Chuột - tương truyền vùng đất này của người Chăm, xưa kia lau sậy mọc "tùm lum". Công chúa Chăm năm 16 tuổi mắc bệnh nặng khó qua khỏi nên về sau xây dựng miếu Am để tu tại Hòn Rơm. Nàng lấy biệt danh là bà Nà Né - lâu dần người dân đọc lệch chữ Nà Né thành Mũi Né. Né là tên của công chúa Út ấy - Mũi là mũi đất đưa ra biển.


*** Trong bài viết này, người viết muốn đưa ra thêm các dữ kiện nhằm góp phần tìm hiểu về địa danh [Mũi Né] này.

[Mũi Né] trong thư tịch cổ:
Trong quyển 12 tỉnh Bình Thuận, tập 3, sách Đại Nam nhất thống chí có chép như sau: “núi Vị Nê ở phía Tây Nam huyện, giữa một dải động cát dăng ngang ở bãi biển nổi lên một núi, có ghềnh đá gọi là mũi (Mũi Né), phía Nam mũi có vũng biển, thuyền gặp gió có thể vào đậu. Phía đông có hòn đảo ở trong biển, tục gọi hòn Lao. Trên vũng có điếm canh. Gần đấy có núi Mụ Đặng, núi Tà Bông, núi Lô Tô, núi Giám Trạng, núi La Thô, núi Cà Tung, núi Thạch Khê, núi Tà Cú, núi Tiên Tỉnh, núi Đài Sơn”

Trong các văn bản Hán nôm, địa danh liên quan đến [Mũi Né] đa phần được ghi lại 渭 泥 泳 港 (VỊ NÊ VỊNH CẢNG) tức vịnh-cảng Vị-Nê. Nhiều tác giả dịch ra là vịnh-cảng Sông Bùn (Vị Nê), thiết nghĩ lối dịch nghĩa địa danh này không hợp lí, và nếu ta bám sát nghĩa của từ để truy nguyên tên gọi địa danh sẽ chóng đi vào ngõ cụt, vì thế theo người viết ta nên hiểu từ渭 泥 (VỊ NÊ) theo lối kí âm từ-tiếng địa phương theo lối viết Hán-nôm.
Cũng liên quan đến tên gọi địa danh này, trong các tập sách khảo cứu liên quan đến địa phân Bình Thuận, hay trong các tập bản đồ xưa có liên quan thì [Mũi Né] được người Pháp chú lại bằng cái tên Cap de Vine/Mũi Vinê (trong tập An Nam Đại Quốc hoạ đồ, năm 1838), hay Pt ViNay (trong bản đồ nước Đại Nam dưới thời Minh Mạng , năm 1828), và nhiều tập bản đồ khác. Vậy ta thấy Vinay/Vine/Vinê đều là các cách chú theo phiên âm của từ [Vị Nê] hay cho địa danh [Mũi Né] nay.
Ta cũng biết đất Bình Thuận xưa vốn thuộc vương quốc Champa, nơi đây có nhiều cộng đồng Champa sinh sống trong đó đông nhất là người Cham, vì vậy việc truy nguồn tên gốc địa danh cũng cần chú trọng yếu tố bắt nguồn từ tên gọi theo tiếng Cham (Champa) nơi vốn thuộc đất xưa của họ.
Liên quan đến địa danh [Mũi Né] chúng ta cần chú ý cấu trúc địa danh có liên quan, mà ở đây từ [Né] cần được chú ý hơn cả.
Theo kí ức của người Cham, vùng biển tại khu vực [Mũi Né] này được họ gọi là [Tasik Anaih].

Tại khu vực Mũi né này còn có một di tích quần thể đến tháp mang tên Bimong Po Sah Anaih mà chúng ta cần khảo xét kĩ hơn nhằm làm rõ cấu trúc địa danh liên quan. Quần thể đền tháp toạ trên đồi Bà Nài mà người Cham gọi là Mbuen “Nai” Anaih tức đồi Bà Anaih, quần thể đền tháp được xây dựng vào khoảng cuối tk VIII-đầu tk IX, theo ghi chép khảo tả của A.Cabaton về quần thể đền tháp tại Phú Hài (Pajai) này vào năm 1902 trong cuốn “ Nouvelles recherches sur les Chams” tại trang 17-18, ông có chép lại theo lời của cư dân Cham tại đây rằng, quần thể đền tháp trên đồi Bà Nài này là quần thể tháp Po Bia Tikuh (công chúa Chuột, một vị thần nông nghiệp, con gái của Po Ina Nagar). Trong quần thể đền tháp này có một Kalan/tháp chính , bên trong có bộ ngẫu tượng Linga-yoni mà người Cham gọi là Kalan Po Sah Anaih.
Năm 1909, trong cuốn “Khảo tả về đền tháp Champa” (Monuments chams de l’Annam), tại tome I, trang 36 H.Parmentier cũng xác nhận lại một lần nữa về Kalan Po Sah Anaih, trong quần thể đền tháp mà người Cham gọi là Bimong Po Bia Tikuh là con của Po Ina Nagar, như A.Cabaton đã dẫn trước đó.
Như vậy, tại khu vực này, cấu trúc địa danh của nó đều chứa từ [Anaih]. Vậy [Anaih] này có phải là cơ sở để hình thành [Nê]/[Né] trong lối kí âm Hán –Việt từ 泥 không?
Trong tiếng Cham [Anaih] /a-nɛɦ/ đọc như A-Né, có nghĩa là nhỏ, bé nhỏ. Trong văn nói từ [Anaih] bị nuốt phụ âm đầu nên ta chỉ còn nghe [Naih] nghe như Né, là cơ sở hình thành nên cách kí âm Nê/Né qua lối Hán-Việt.

Vậy từ đâu có cái tên Vị Nê (trong Vị Nê vịnh cảng)! , Po Sah Anaih, là một cô công chúa bé nhỏ của bà chúa xứ xở Po Ina Nagar, vì thế Po Sah Anaih còn được gọi là Bia Anaih, hay Nai Anaih. Chính từ [Bia Anaih] /bia: a-nɛɦ/ đã biến thành Vị-Nê, với [Bia] có nghĩa là nữ vương, và cũng là cơ sở để thình thành tên gọi Vinay/Vine trong lối kí âm của người Pháp.
Hay [Nai Anaih] /nai a- nɛɦ/ mà trong văn nói chỉ nghe Nai-Naih, đây là cơ sở hình thành nên tục danh Nà Né mà chúng ta có nghe nhắc đến. Ngọn đồi, nơi toạ lạc quần thể đền tháp Po Sah Anaih có tên theo tục danh tiếng Cham là “Mbuen [Nai] Anaih”, sau người Việt vào sinh sống tại khu vực Phố Hài (Pajai) đọc lại thành đồi Bà Nài tức Bà “Nai Anaih” này mà thành.
Tính đồng dạng trong lối đặt địa danh có từ [Anaih] này chúng ta còn tìm thấy tên địa danh trên địa bàn tỉnh Ninh thuận là [Tasik Anaih] tức vùng biển nhỏ, thuộc Bal Sri Binây (một thủ đô cũ của Champa) nay thuộc Vũng Nại làng Tri Thuỷ, Ninh Hải.


*** Như vậy, từ những cơ sở được chỉ dẫn ở trên chúng ta cũng xác định được nguồn gốc tên gọi Né/Nê có gốc từ-tiếng Cham là [Anaih] /a-nɛɦ/ có nghĩa là Nhỏ bé, Nhỏ. Là sơ sở hình thành cấu trúc tên gọi địa danh cho Mũi Né [Mbaok “chuai” Anaih]; đồi Bà Nài [Mbuen “Nai” Anaih]; biển Mũi Né [tasik Anaih].



2020/06/26

Từ [Craoh Khaiy] cho đến [Khê Gà]/[Kê Gà]

Từ [Craoh Khaiy] cho đến [Khê Gà]/[Kê Gà]
***




Liên quan đến địa danh [Khê Gà] hay còn gọi là [Kê Gà] thì cho đến bây giờ đã có nhiều giả thuyết đã được nêu ra để giải thích cho tên gọi địa danh này, tuy nhiên vẫn chưa có giả thuyết nào có đủ tính thuyết phục khi hầu hết các lối giải thích đều dựa vào các văn bản, bản đồ xưa chép lại với từ Hán-Việt có nhắc đến chữ [KÊ], [KHE] hoặc [KÊ-GÀ]. Các giả thuyết trên đều bỏ qua một nguyên tắc quan trọng trong nghiên cứu địa danh là hiểu biết về lịch sử của vùng đất nơi có địa danh cần xét đến, trong đó có những yếu tố mang tính kế thừa tên địa danh, hay lịch sử biến cố của vùng đất trước đó, cụ thể là các yếu tố lịch sử địa danh có gốc Champa, khi nơi đây vốn là đất xưa của Champa.
Trong bài này người viết muốn đưa ra một giả thuyết, hay bổ sung tư liệu còn thiếu để góp phần tìm hiểu về địa danh [Khê Gà] này.
Địa danh [Khe Gà] được chép lại trong nhiều văn bản hay bản đồ xưa, ta thử liệt kê vài tài liệu có dẫn như:
- Trong cuốn “Thông quốc diên cách hải chử” có mô tả về vùng đồi núi nhô ra sát biển là “Kê Úc Đại Sơn” (Núi lớn vũng gà); hay như trong “Đại Nam toàn đồ” có chú “Kê Chuỷ” tức Mũi Gà; trong truyện “Đông tây dương khảo” chép về Champa có chú một địa danh mang tên “Xích Khảm Sơn” tức (hòn) núi nhỏ như cái chén có thứ đất đỏ.
- Một đoạn trong cuốn Đại Nam thực lục (ĐNTL) của nhà Nguyễn đều có chép về địa danh Khe gà này : “Mùa đông tháng 10 năm 1794, " Lấy Phó Hậu chi dinh Trung thủy là Lưu Tiến Hòa quản đạo Ma Li, kiêm lĩnh ba thủ Kê Khê [Khe Gà], La Di, Phù Mĩ, Cai cơ chi Chấn Võ là Vũ Văn Lân quản đạo Phan Rang kiêm lĩnh hai thủ Ma Vằn, Du Lai. Sắc cho Lưu Tiến Hòa lập đội Tuyển phong, Vũ Văn Lân lập đội Chiến phong, mộ những dân lậu và quân tàn sung vào." (ĐNTL, tập 1)
- Mùa đông tháng 10 năm 1797, " Lấy khâm sai thuộc nội thống binh cai cơ quản đạo Ma Li là Võ Văn Lân quản đạo Phan Rang, kiêm hai thủ Ma Vằn và Du Lai. Khâm sai thống binh cai cơ cựu chánh Hậu chi Hữu quân là Nguyễn Văn Cẩm quản đạo Ma Li kiêm ba thủ Khe Gà, La Di và Phù Mi " (ĐNTL, tập 1)
- Mùa hạ tháng 4 năm 1854, " Giặc biển giết người, cướp bóc thuyền buôn ở cửa biển Long Hưng về Biên Hoà ; lại cướp thuyền đại dịch và thuyền buôn ở phận biển khe Kê Chuỷ về Bình Thuận " (ĐNTL, tập 7)
- Hay trong các bản đồ của Pháp có chú địa danh này với tên gọi Kéga, Kega ví dụ như trong tập bản đồ La Cochinchine française en 1878; Annam Dai Quoc Hoa Do, de Mgr Taberd, 1838.

Như vậy về địa danh này mà trong các dữ kiện nêu ra bên trên kia ta thấy [Khe Gà] hay [Kê Gà] ngày nay đều có chép từ cái tên liên quan là Kê/Kê gà/Kega hay Khe gà mà thành.
Xét về mặt nguôn ngữ thì chúng ta đều thấy nguồn gốc địa danh của từ [Kê gà]/[Khe Gà] đều xuất phất từ lối kí âm từ chữ KÊ hay KHE cho địa danh này mà ra. Nhưng nếu theo lối giải nghĩa Hán-Việt thì KÊ-GÀ rõ ràng phải là GÀ-GÀ, hoặc nó là từ đẳng lập sinh ra khi ta kí âm qua lối Hán-Việt này. Nhưng liệu ta dùng KÊ “kí âm” và kiêm luôn vai trò giải nghĩa thành “Gà” như là cách giải thích địa danh đã công bố trước đây cũng chưa có phần thoả mãn và khiến những lập luận của chúng ta bị đóng khung là phải đi tìm kiếm các sự vật hiện tượng (tưởng tượng) ví dụ như “hòn đảo có nhiều gà rừng, hay khe suối cạnh đó có gà rừng màu đỏ” để làm cho phù hợp với tên địa danh mà ta lỡ đóng khung chết khi biến KÊ kí âm thành kí nghĩa là GÀ? Chưa kể rằng, thuở trước ở ta vùng đất nào cũng đầy gà rừng sinh sống, và là động vật khá phổ biến ở ta.
Vậy nếu ta thử đặt một giả thuyết mở hơn khi xem KÊ/KHÊ là lối kí âm (không kí nghĩa) để đi tìm một hướng giải thích khác bổ sung được chăng!
Như trên liệt kê thì trong “Đông tây dương khảo” chép về Champa có chú một địa danh mang tên “Xích Khảm Sơn” tức (hòn) núi nhỏ như cái chén có thứ đất đỏ để chỉ cho địa danh thì rõ ràng từ Xích này cho chúng ta một manh mối xưa hơn về đặc tính của vùng đất này có thứ đất màu ĐỎ. Vả chăng, chữ KÊ KHÊ trong ĐNTL là một từ Hán-Việt với KHÊ để chỉ Khe Suối và KÊ là kí âm.
Ngoài ra về địa danh [Kê Gà] này ta còn là tên gọi địa danh có ở tỉnh Khánh Hoà và Phú Yên, vậy không lẽ sự trùng hợp này đều ám chỉ cách gọi tên KÊ = GÀ vì ở 3 địa điểm trên đều có Gà rừng mà ta nhìn thấy mà điểm chỉ đặt tên sao? Và đó chính là cái bất hợp lí, chưa đủ tính thuyết phục này khiến ta nghiêng về giả thuyết KÊ là lối kí âm theo Hán tự hơn là giải nghĩa.
Vậy [Kê] này là kí âm cho từ nào?
Xét lại lịch sử chứa địa danh này ta cần đi tìm cứ liệu từ phía Champa khi mà nơi đây vốn là mảnh đất cư trú lâu đời của người Cham (Champa). Tại đây ta biết có một dòng suối lớn đổ vào cửa Đại Khê gọi là suối Kê Khê (ĐNTL) hay còn gọi là suối Tre, suối Tiên, tên tiếng Cham gọi là [Craoh Khaiy] có nghĩa là suối Đỏ, bởi dòng suối có nước màu đỏ do chảy qua sa mạc cát đỏ nơi đây mà thành, dòng này đổ vào cửa Đại Khê nơi cửa biển, bãi biển ngay cạnh mũi Kê Gà này là một bãi cát màu đỏ và ngay cả Mũi Kê gà (Kê Chuỷ) là một mũi màu đỏ như ta thấy.

Một đặc điểm chúng ta cần xét đến là tính đồng dạng hay đặc điểm đồng dạng về địa danh tại 3 địa phương tại nơi có địa danh [Kê Gà] này đều cùng có chất đất/đá màu Đỏ. Hay ta còn tìm thấy một đồng dạng, hay lối đặt tên này từ một địa danh thuộc tỉnh Ninh Thuận là [Cek Khaiy] tức Núi Đỏ.
[Khaiy] /kʱɛ:/ với Khaiy đọc như Khe, có nghĩa là suối Đỏ hay là thứ nước âm thuỷ (chúng ta chú ý với tên gọi Suối Tiên, tức suối Kê Gà). Và được kí âm qua Hán tự với Kê/Khê.

Từ những dữ kiện được nêu ra , chúng ta có thể thấy rằng từ gốc tiếng Cham [Khaiy] này đã biến thành [Kê] hay [Khê] phù hợp với các nguyên tắc về lịch sử địa danh, ngôn ngữ, tính đồng dạng, và cũng phản bác được lí thuyết cho lối giải KÊ=GÀ khi mà lối giải này mang nhiều tính bất hợp lí, hay ta khẳng định được rằng [Khaiy] là phù hợp hơn cả cho việc tìm lại nguồn gốc địa danh Kê Gà và trở thành tên gọi cho các tên địa danh liên quan như Mũi Kê Gà, Suối Kê Gà, Bãi Kê Gà, Cửa Kê Gà,…







2020/06/23

Từ [Palei CaKlaing] cho đến Làng [Nha Trinh]/[Nha Tranh] hay Làng [Mỹ Nghiệp] nay

Từ [Palei CaKlaing] cho đến Làng [Nha Trinh]/[Nha Tranh] hay Làng [Mỹ Nghiệp] nay.
***



Làng [Mỹ Nghiệp] nay là địa danh hành chính (thôn/làng) thuộc huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận. Là một làng dệt cổ truyền có truyền thống lâu đời được các Bà các Mẹ truyền tay qua các con gái của mình mà bảo tồn cho đến bây giờ. Làng trú trên gò đất cao nơi cuối dòng Krong La-a tức Sông Lu ngay cạnh Bal Caong một thành phố cũ thuộc Biuh Bal Pangdurang (Panduranga).
Cái tên “làng” [Mỹ Nghiệp] là tên hành chính được đặt mới đây trong giai đoạn của vương quyền Bảo Đại, nằm bên cạnh dòng Sông “Đập Giữa” (Banek Krâh) tức Sông Lu đoạn có đập Giữa chắn dòng. Sau trận lụt lớn năm Thìn (1964) làng dịch chuyển vào gò đất cao hơn và trú đến ngày nay với cái tên [Mỹ Nghiệp].
[CaKlaing] là cái tên làng theo tục danh thông dụng mà người Cham bấy lâu nay vẫn hay sử dụng mặc dù làng nay đã đổi tên hành chính như nay ta đã biết.
[CaKlaing] /ca: klɛŋ/ đọc như Cha [Kl]ing hay Cha [Kl]eng mà dấu âm AI theo phương ngữ từng vùng mà nghe thành E – A hay I, và đây là nguyên do hình thành nên tên gọi [Nha Tranh] hay [Nha Trinh] có trước đó.
Theo câu chuyện của người xưa kể lại, rằng tên làng Palei [Caklaing] được đặt theo tên của Muk [Caklaing] (Ong PaCa-Muk Caklaing) là ông bà nuôi người mẹ thân sinh của vị vua tài ba là Po Klong Garai, tên làng đã được đặt theo tên của người Mẹ (tính mẫu, Mẫu hệ).
- Palei [CaKlaing] nổi tiếng với nghề dệt cổ truyền , mà nguyên liệu làm sợi chính là từ cây Bông (Phun Kapah), để có số nguyên liệu này thì hẳn nhiên một làng nghề dệt cổ truyền ắt cần đến một diện tích cách đồng lớn và có tính chất đất phù hợp để có thể trồng được giống cây Bông này dùng cho việc dệt vải của mình. Và hẳn nhiên, toàn bộ nhân lực của làng đều dồn vào ngành nghề này, hay liên quan đến các công đoạn cho ngành nghề dẫn đến quỹ đất và nhân lực dành cho ngành nông nghiệp (trồng lúa) giảm đi. Hiện nay trong tất cả các làng của người Cham tại xứ Phan Rang này thì làng Mỹ Nghiệp có quỹ đất nông nghiệp (trồng lúa) có thể là thấp nhất dù có lợi thế nằm cạnh dòng Krong La-a (Sông Lu) phù hợp khai thác dòng nước.
- Liên quan đến Palei [CaKlaing] còn có các địa danh cần xét đên/lưu tâm đó là [Banek Krâh] (Đập Giữa), [Danaw Aih] (Vũng Aih, đọc nhứ É), [Hamu Rok], [Hamu Baok],…
- Ta biết xứ Panduranga, giai đoạn Po Klong Garai lên làm vua, ông đóng đô tại Bal Sri Banây (Nại, khu vực làng Tri Thuỷ). Và khu vực sinh hoạt thuở niên thiếu cùng đám bạn ở khu vực [Bal Hanguw] (Xem thêm các bài cùng chủ đề bên dưới).
- Các thủ đô của xứ Panduranga cũng đã dịch chuyển dần vào nam theo dòng lịch sử của xứ sở, và không ngoài khả năng Palei Caklaing cũng thế đã dịch chuyển theo thời cuộc. Với đặc tính là một làng nghề thủ công, dệt truyền thống chắc chắn phải dịch chuyển theo cùng để có thể dệt ra các thứ vải hoa,…phục vụ cho Vương triều hay cho người dân trong xứ và theo một quy luật nó ắt phải là nơi nằm trong bán kính trung tâm thành phố xầm uất của vương triều. Tại Palei Caklaing hiện có một dòng họ, mà theo người xưa kể lại thì dòng họ vốn chuyển từ bên trong núi rừng đến làng mới hiện tại vào buổi đầu lập làng này, và có lẽ không nằm ngoài khả năng trước đó Họ, dân làng đã đi lánh nạn trên vùng Dran trước khi quay về nơi định cư mới tại Bal Biuh Pangdarang.
*** Địa danh có tính dịch chuyển, dịch chuyển theo dòng lịch sử đi theo lớp dân chốn cũ đến nơi cư trú mới như một thứ kỉ niệm khó quên, hay để thành một thông điệp lịch sử nhắc nhở con cháu mai sau theo mạch mà truy nguồn. Dựa vào những dữ kiện nêu trên, cùng với các địa danh xưa dọc theo dòng [Krong Praong] sông Cái có những sự trùng hợp về tên gọi địa danh cũng đã cho ta một gợi ý về địa điểm (nơi cư trú trước đó) vào giai đoạn của Po Klong Garai có bán kính tạm xác định xung quanh Banek Caklaing (đập Nha Trinh) và để có thể đi đến một kết quả chính xác hơn là việc chúng ta cần xác định được vị trí địa danh [Banek Krâh].
*** Vậy [Banek Krâh] nằm ở vị trí nào trên dòng [Krong Praong] Sông Cái này!


P/s: Xem thêm bài
- Từ [Banek PaCa] hay [Banek Caklaing] đến [Đập Nha Trinh]
- Từ [Krong Pha] cho đến [Sông Pha]
- Từ [krong La-a] hay [Cek La-a] đến [Sông Lu]

2020/06/18

Từ [Banek PaCa] hay [Banek Caklaing] cho đến [Đập Nha Trinh]



Từ [Banek PaCa] hay [Banek Caklaing] cho đến [Đập Nha  Trinh]

***

[Đập Nha Trinh] là một công trình thuỷ lợi lớn lâu đời tại đất Ninh Thuận mang lại nhiều nguồn lợi cho nền nông nghiệp trong vùng.

[Đập Nha Trinh] được xây dựng hoàn thiện bởi cộng đồng Champa dưới sự chỉ đạo của vua Po Klong Garai, Ông đã cho dùng đá, gỗ tốt và chà bổi để dựng đập chắn ngang dòng của con sông Cái tức Krong Praong để dẫn dòng vào khai thác các cánh đồng trong vùng. Và để ghi nhận công ơn người, làng nuôi nấng mình , Po Ong (JaTol) đã cho đặt tên con đập này là [Banâk Caklaing] hay còn gọi là [Banek PaCa].


Tên địa danh Đập [Nha Trinh] đã được người Việt kí âm lại từ tên gốc tiếng Cham là [Caklaing]  /ca: kl ɛŋ/ , đôi khi còn được người Việt kí âm thành Nha Tranh. Nha Trinh/ Nha Trinh cũng chính là tên làng Caklaing với tên hành chính ngày nay là Làng Mỹ Nghiệp.

[Đập Nha Trinh] là một công trinh thuỷ lợi chứng minh tài nghệ trị thuỷ của người xưa mà giá trị của nó vẫn còn đến mai sau, là chứng nhân lịch sử phát triển của xứ sở. Khoảng năm 1897, đập Nha Trinh đã được nâng cấp bằng vật liệu mới dưới sự chỉ huy của bá tước De Pérignon.

[Palei Caklaing] tức làng [Mỹ Nghiệp] nay vốn là làng mà vị vua Po Klong Garai sinh ra và lớn lên tại đây, khi xưa JaTol hay cùng chúng bạn đi chăn bò và kết thân với “Po Klong Chanh” cùng đi buôn trầu quanh khu vực [Bal Hanguw] đến [Krong Pha] Sông Pha, vậy liệu [Palei Caklaing] nổi tiếng với nghề dệt truyền thống xưa kia vốn nằm quanh khu vực này cạnh dòng Krong Praong, với đặc tính vùng đất nơi đây phù hợp với việc trồng cây bông dệt sợi và, Cây Bông Nha Hố đã một thời tạo nên tên tuổi của mình tại khu vực này! Và lẽ, đó là điều chúng ta cần đi ngược dòng để định hình lại thêm cho địa danh [Caklaing] (Nha Trinh/Nha Tranh)!


2020/06/17

Từ [Krong Pha] cho đến [Sông Pha]


Từ [Krong Pha] cho đến [Sông Pha]



[Sông Pha] là địa danh thuộc huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, là một phụ lưu của con Sông Cái nơi đầu nguồn. [Sông Pha] khởi nguồn bởi các suối phía Tây của núi Vàng gọi là [Cek Mâh] giáp ranh với huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng. Tập trung đông người Raglai sinh sống.

Địa danh này đặt theo tục danh địa phương  [Krong Pha]  /krɔ:ŋ fa:/.

[Sông Pha] còn có các tục danh khác như  [Sông Gòn], [Sông Ông]. Với,

[Sông Gòn] có nguồn gốc từ [Krong Agaol]  /krɔ:ŋ a-ɡ͡ɣɔ:l/, khi dòng sông này đi qua Làng Gòn tức [Palei Agaol] trong đó [Agaol] có nghĩa là “cây” bông gòn, làng nằm ngay chân đèo Sông Pha vốn nơi đây đầy cây bông gòn giờ đã thành cổ thụ to lớn.

Khi qua khỏi Làng Gòn, con sông này mang tên [Sông Ông], về nguồn gốc tên địa danh này nó liên quan đến vị vua Po Klong Garai, mà ta biết từ khu vực [Mbuen Hala] (Đồi Trầu) cho đến [Sông Pha] cửa ngõ để tiến lên [Dran] vốn thuộc [Bal Hanguw] phía bên hữu ngạn của [Krong praong] (Sông Cái) là khu vực tập trung đông đúc cộng đồng dân Champa sinh sống, trong đó có Palei Caklaing vốn là ngôi làng của vị vua Po Klong Garai sinh ra với cái tên [Po Ong] (JaTol) là tục danh của vị vua này. [Sông Ông] đã được đặt tên theo tên tục danh của vị vua Po klong Garai, là khu vực mà trước đây mà vị vua cùng bạn bè lui tới chăn bò hay đi buôn trầu.

[Sông Pha] nay đã trở thành tên địa danh hành chính có gốc từ [Krong Pha], đồng thời còn có các tục danh thường gọi của người dân nơi đây mà tên gọi của nó chứa đựng các câu chuyện lịch sử thú vị của vùng đất.


2020/06/16

Từ [Huma Ranây] cho đến [Ma-Nới]

Từ [Huma Ranây] cho đến [Ma-Nới]

***

[Ma-Nới] là địa danh một xã (Xã Ma Nới) thuộc huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận nay một xã thuộc vùng cao/xa của tỉnh, nơi đông người Raglai sinh sống gắn liền với phương thức sản xuất lúa rẫy bằng nước trời và giữ gìn nhiều tín ngưỡng bản địa, Ma-Nới cư trú trên địa hình bằng phẳng và nhỏ hẹp bao bọc xung quanh là núi tạo thành một thế lòng chảo, nơi có con sông Chá đi qua được người dân gọi là [Krong Atah] phát nguồn từ Suối Chá (Craoh Atah) trên dãy núi Chá tức [Cek Atah], một phụ lưu phía hữu ngạn Krong Praong (Sông Cái).

Tên địa danh [Ma-Nới] bắt nguồn từ tên địa danh chỉ cho cánh đồng (đồng bằng cư trú) mà người Raglai chọn làm nơi cư trú có tên là [Huma Ranây]

[Huma Ranây] /hu: ma ranøɪ˨˩/ . Ở đây [Huma] có nghĩa là cánh đồng, đồng ruộng; [Ranây] hay [Danây] có nghĩa là âm vang. Và địa danh này có nghĩa là cánh đồng âm vang “âm vang tiếng suối, tiếng núi rừng do địa hình bao bọc bởi núi tao ra thứ âm vang này”.

[Huma Ranây] đã bị nút âm trong văn nói rút gon lại thành [Ma-Nây] đọc như Ma-Nơi trong tiếng Việt.
Tên địa danh này đã được kí âm lại theo tiếng việt và ghi thành Ma-Noi/Ma Nôi trong bản đồ địa bạ triều Nguyễn khoảng năm 1924. Cũng trong tập bản đồ này [Craoh Atah] được phiên âm thành [Suối Trá!], hay như trong tập bản đồ Việt Nam (phần Phan Rang) được xuất bản năm 1965 có ghi phiên âm thành sông Chá.

Như vậy, ta thấy địa danh [Ma-Nới] đã được phiên âm từ tên một địa danh bản địa có tên [Huma Ranây] (hay Huma Danây) để chỉ cho đặc tính địa hình nơi cư trú mô tả đặc trưng âm vang của núi rừng nơi đây.



2020/06/15

Từ [Uk Dalam] hay [Hamu Dalam] cho đến [Ú Ma Lâm] hay [Tà Lâm]/[Ma Lâm]


Từ [Uk Dalam] hay [Hamu Dalam] cho đến [Ú Ma Lâm] hay [Tà Lâm]/[Ma Lâm]

***


[Ú Ma Lâm] là một địa danh thuộc huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận nay, là nơi có đông cộng đồng người Raglai sinh sống, người Raglai có mối quan hệ gần gũi với người Cham có cùng ngữ hệ với nhau.

[Ú Ma Lâm] có vị trí địa lí bao quanh là núi, làng cư trú trên đồng bằng [Hamu Dalam] bên cạnh sông Ma Lâm [Krong Dalam] nguồn từ [cek Marai] núi Marai, chảy theo hướng Bắc-Nam, là một một phụ lưu bên tả ngạn sông Cái Phan Rang [Krong Praong], và canh tác dựa vào nguồn nước mà sông Ma Lâm này cung cấp. Tên địa danh này được hình thành nên từ tục danh địa phương.
Trong tiếng Cham,

 [Hamu Dalam]  /ha-mu:  d̪a-lʌm/ có nghĩa là Ruộng Sâu/Trong “rừng” (cánh đồng nằm sâu trong rừng, núi ).
Như vậy chúng ta thấy từ [Dalam]  / d̪a-lʌm/  có nghĩa là Trong, đã biến thành Tà Lâm, hay [Hamu]  /ha-mu: / (Huma /hu:-ma/) có nghĩa là Cánh đồng/Ruộng đã biến thành Ma trong Ma Lâm (từ Hamu Dalam).

[Uk Dalam]  /u:ʔ  d̪a-lʌm/  trong đó Uk có nghĩa là cái Vò (Vò đựng nước mắm, có nơi gọi là cái Ú).
[Uk Dalam] cũng là tên gọi chỉ cho địa danh [Tà lâm]/[Ma lâm] nói lên vị trí cư trú của nó được hình thành nằm phía bên trong (vào sâu trong rừng) từ [Palei Aia Uk] tức làng Gia Bú. Với [Uk] đã biến thành Ú/Bú trong tiếng Việt.

Như vậy, từ [Uk Dalam] hay [Hamu Dalam] đã biến thành [Ú Ma Lâm] hay [Tà Lâm]/[Ma Lâm] là địa danh mang tính bản địa, đồng thời nó cũng trở thành tên địa danh cho con sông Ma Lâm [Krong Hamu Dalam] chảy qua cánh đồng Ma lâm [Hamu Dalam], nơi hiện nay còn đông người Raglai cư ngụ.


2020/06/04

Từ [krong La-a] hay [Cek La-a] đến [Sông Lu]


Từ [krong La-a] hay [Cek  La-a] đến [Sông Lu]



[Sông Lu], tên một con sông thuộc huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận nay.  Là phụ lưu lớn nhất của Sông Dinh (Krong Praong) dài khoảng 50km bắt nguồn từ vùng núi La-A (Là Hà), sông chảy theo hướng nam-bắc cung cấp lượng nước phục vụ canh tác nông nghiệp tại các cánh đồng mà nó đi qua.

[Sông Lu] được hợp  lưu  bởi hai dòng suối chính là [craoh Biuh] (Suối Biêu, vùng giáp ranh giữa Ninh-Bình Thuận) và hệ thống suối  [craoh La-a] (suối Là Hà, giáp ranh giữa NinhThuận – Lâm Đồng) mà thành, và có nhiều tên gọi theo từng vùng mà nó đi qua, đoạn hạ lưu của con sông chảy trên đất bằng tính từ [Banek Maren] (đập Ma-rên) con sông lần lượt đi qua các địa danh nổi tiếng như  [Bal Virapura] (thành phố Hùng tráng), danaw panrang (vũng phan rang, Bàu trúc nay), Bal Caong (Phú Quý nay),  hamu caklaing (cánh đồng Mỹ Nghiệp nay),…

[Sông Lu] vốn thuộc địa phận xứ Panduranga (Phan Rang) vùng đất lâu đời của Champa, chảy ôm trọn thành Virapura (Bal Virapura) nơi đất bằng ở phía hạ lưu và tạo thành một thế Luỹ tự nhiên bằng sông mà người Champa (Cham) gọi là Krong Biuh (Sông Luỹ, giống với sông Luỹ ở Bình thuận và cùng có chung phát nguồn từ [craoh Biuh] Suối Biêu nơi đầu nguồn)  tạo thành một thế luỹ thành bảo vệ Bal Virapura mà người Việt gọi tên phiên âm thành Sông Biêu/Sông Viêu/Sông Diệu/Sông Là Hà, trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí chép lại thành sông Ma-Bố.

Ngày nay chúng ta chỉ còn nghe đến tên [Sông Lu] để gọi tên chính thức cho con sông này, vốn phát nguồn từ [cek La-a] (núi Là Hà/Là a) và cũng là lối phiên âm từ đó mà ra.

Trong tiếng Cham, [La-a] /la-a:/ có nghĩa là cây Là A (thuộc họ tre), từ [La-a] này người Việt phiên âm thành Là-Hà/La/Lu.

Hệ thống [Sông Lu] này với nhiều tên gọi theo từng giai đoạn lịch sử và địa phận nó đi qua, song nó là nhân chứng lịch sử lâu đời, là nguồn mạch sống nuôi dưỡng đồng bằng virapura với đầy đủ hệ thống khai thác dòng nước  tài tình của các đời vua, lưu dấu ấn nhiều nhất với vị vua Po Rame, và cũng là luỹ thành (sông) bảo vệ cho thành phố với tên gọi [krong biuh] (Sông Biêu, sông Luỹ), mà ngày nay bên tả ngạn nơi cuối dòng của nó (Bình Quý nay) còn lưu lại dấu tích về luỹ thành bằng gạch xếp chồng.


Xem thêm bài “Từ [Hamu Bek] cho đến [Quý Chánh]



2020/05/26

Từ [Mbaok Chuai Pandarang], [Cek Dil], [Cek Saralang] cho đến [Mũi Dinh]

Từ [Mbaok Chuai Pandarang], [Cek Dil], [Cek Saralang] cho đến [Mũi Dinh]

***

Trong bài kì trước: Từ [Dil] cho đến [Sơn Hải], mình đã cùng chỉ ra nguồn gốc địa danh [Dil] nơi sau này trở thành nền móng lập làng [Sơn Hải], và [Dil] /d̪il/ có nghĩa là Vịnh và đọc như Tìn[g], Đìn[g] trong tiếng Việt.
Liên quan đến địa danh [Dil] hay [Sơn Hải] này còn có một địa danh nổi tiếng khác, đó là địa danh [Mũi Dinh] mà chúng ta sẽ cùng tìm hiểu dưới đây.
[Mũi Dinh] là một địa danh thuộc thôn Sơn Hải, Phước Dinh, Ninh Thuận. Nơi mà khoảng 1886-1891 ngọn hải đăng [Mũi Dinh] được xem là cổ và đẹp nhất miền trung được người pháp dựng lên tại vùng đất này. Liên quan đến tính hiểm trở, hay địa thế trọng yếu trên tuyến đường biển vào nam đi ngang qua địa danh này và được nhiều tài liệu hay giai thoại còn ghi chép và nhắc lại như:
“ Mũi Nạy bảy bị còn ba/ Mũi Dinh chín bị, không tha bị nào” để chỉ cho độ hiểm trở địa thế, dòng hải lưu tại nơi đây đặc biệt vào mùa gió đông-bắc có thể làm tổn hại đến các loại tàu thuyền đi ngang qua.

Hay như trong cuốn “Xứ Đông Dương” của Paul Doumer (tại trg 365, nxb Thế giới): "Mũi Dinh là một trong những điểm đặc biệt trên con đường từ Bắc Kỳ tới Nam Kỳ… Vào mùa đông khi có gió mùa đông bắc, người ta có thể gặp ngay trước Mũi Dinh những dòng chảy mạnh đến mức tàu hơi nước trọng tải nhỏ và tốc độ thấp không thể vượt qua. Tình huống đó thường xảy ra với các pháo hạm của các Hạm đội Đông Dương, các tàu bánh guồng như Alouette hay Benagali, hay các tàu chân vịt như Comère, Vipère hay Aspic”.

Vậy [Mũi Dinh] là tên địa danh có nguồn gốc từ đâu?

    - [Mũi Dinh] vốn là một mũi/đảo núi đá nhô ra xa về phía biển, trong miền kí ức của người Cham (Champa), địa danh [Mũi Dinh] vốn được gọi theo tục danh là [Mbaok Chuai Pandarang], [Cek Dil], hay [Cek Saralang] và đều chỉ cho núi đá Mũi Dinh này.

Với:     - [Mbaok Chuai Pandarang] có nghĩa là Mũi [đất] Phan Rang. Sự xuất hiện tên gọi này chúng ta có thể hiểu rằng, trong địa hình toàn xứ Pandarang (Phan Rang) có một Mũi đất nhô ra phía mặt biển được gọi là [Mbaok Chuai Pandarang] và là tên đại diện chung cho toàn xứ Pandarang này.

           - [Cek Dil] có nghĩa là Núi Dil (với Dil có nghĩa là Vịnh). Là tên gọi tục danh của cư dân Cham trong vùng để chỉ cho một ngọn núi đá nhô ra biển, mà ở nơi đó có một vịnh nhỏ [Dil] là nơi cho tàu thuyền tránh gió.
            - [Cek Saralang] có nghĩa là Núi Xà Cừ. Cũng là một tên gọi tục danh để chỉ cho ngọn núi đá này, nơi có mặt nước biển trong xanh ánh lên màu xà cừ bởi ánh nắng mặt trời.

Như kể trên ta có loạt tên tục danh để chỉ cho cùng một địa danh [Mũi Dinh], nhưng đâu là tiếng từ có khả năng là nguồn gốc từ cho địa danh này. Ta cùng xét thêm vài dữ kiện sau,
Trong sách Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC), [Mũi Dinh] được sách ghi lại có tên gọi là Diên Chuỷ, với Chuỷ có nghĩa là mõm, múi (đất, đá) nhô ra, còn Diên là một từ kí âm tên gốc địa phương.
Còn trong Annam đại quốc hoạ đồ (1838) [Mũi Dinh] được ghi chép là [Mũi din] (hình đính kèm)
Còn theo học giả Étienne Aymonier trong Notes sur l’Annam I le Bình Thuận (Annam ký sự : tỉnh Bình Thuận) ông có ghi chép về địa danh này như sau: “Ce massif a du(*) être une ile(*) jadis, ainsi que celui du cap Padaran. Ce dernier massif appelé Chek Chebang “les monts fourchus” par les Tjames, est en effet bifurqué. Sa pointe sud- est est le Chek Dil des Tjames, le Mũi Dinh des Annamites, le cap Padaran des Européens”

Dựa vào câu trên của ông thì có thể thấy địa danh [Mũi Dinh] có ba cách gọi tại thời điểm đó là Chek Dil theo cách gọi người Cham (Tjames), Mũi Dinh theo cách gọi người An Nam, và Mũi Pandaran theo cách gọi của người Âu châu.

Vậy, [Mũi Dinh] rõ là cách gọi theo người Việt (Annam) còn đến ngày nay, hay như [Diên Chuỷ] chính là [Mũi Dinh] trong ĐNNTC có nhắc đến, với [Diên]/[Din]/[Dinh] là tên phiên âm theo tiếng địa phương [Dil] có nghĩa là Vịnh mà thành, và Vụng Dinh/Vũng Diên là một vùng Vịnh (bến cảng) làm nơi tàu thuyền neo đậu là gốc từ dùng để gọi cho mũi núi đá nhô ra biển theo cách gọi tục danh địa phương mà ra.
[Dil] /d̪il/ -> Diên/Din/Dinh trong tiếng Việt, có nghĩa là Vịnh.
Đến đây chúng ta có thể hiểu được rằng, địa danh [Mũi Dinh] tuy có ba cách gọi tuỳ theo ngữ cảnh không gian nhưng cũng chỉ để gọi cho một địa danh duy nhất mà nơi đó có [Dil] trong tiếng Cham có nghĩa là Vịnh “nước” mà thành.





Hải Đăng Mũi Dinh


2020/04/03

Từ [Bharuv] cho đến [Bà Râu]

Từ [Bharuv] cho đến [Bà Râu]

***


[Bà Râu] là một địa danh thuộc xã Lợi Hải. huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận, nơi có đông người Raglai sinh sống. Hiện nay có hai thôn Bà Râu 1 và Bà Râu 2, trước người Raglai B’rav ngụ sâu trong vùng núi Bà Râu [cek Bharuv], hiện nơi đây còn di tích Danaok Po Ina Nagar Bharav (miếu thờ Po Ina Nagar Bharav).
Liên quan đến địa danh này ta còn có địa danh Tháp Chiên Đàn (làng Chiên Đàn, xã Tam An, tp Tam Kỳ, Quảng Nam), xưa tháp này vốn được người dân địa phương gọi theo tục danh là Tháp Bà Rầu, tháp được xây dựng cuối tk10 đầu tk11, giai đoạn Champa chuyển dời kinh đô từ Amaravati xuống Vijaya (Yang Po ku Vijaya).

Đây là tên địa danh gốc Champa ở hai cố đô Vijaya (Bình định) và Panduranga (Phan rang), mà sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về ngữ nguyên gốc Champa mà nó chứa đựng.
Về địa danh [Bà Râu]/[Bharuv] ở Panduranga chúng ta may mắn tìm được nó trong bản văn khắc kí hiệu C.216A được tìm thấy trong khuôn viên Tháp Hoà Lai (Bimong Yang Pakran), bia đá được khắc bằng chữ Cham cổ, nội dung tấm bia ghi chép về công việc hiến dâng của cải cho/để phục vụ vị thần chủ của vương quốc Panduranga là Śiva Śrī Vr̥ddheśvara người bảo hộ vương quốc. Trong các của cải hiếng dân bao gồm các của cải quí, nô lệ (người phục vụ, chăm nom đền đài) và các cánh đồng trù phú, và tại dòng 19 mặt A (ảnh đính kèm) của tấm bia có liệt kê "cánh đồng “của” làng bharuv" [paliy•bharuv•kṣetraṁ] đã được dâng cho vị thần chủ của xứ Panduranga được thờ trong [Bimong Yang Pakran] Tháp Hoà Lai này.
Cũng liên quan đến [Bharuv] trong một bản văn khắc khác trên tấm bia được tìm thấy ở Mỹ Sơn mang kí số No.81 được M.Finot nghiên cứu và xuất bản trong (B.E.F.,vol IV, p.970, No. XXIV, B.,C). Nội dung tấm bia này nói đến tình hình Champa, và chỉ ra cái chết của Jaya Indravarman Ong Vatuv tại [Yan Bharuv Vijaya] dưới quân lực của Vidhyanandana-Suryavarmadeva.
“Trong khoảng 2 năm sau ngày chia đôi đất nước, dân tộc Champa ở miền bắc vùng dậy chống lại hoàng tử In, gốc nguời Campuchia nắm quyền điều hành ở thủ đô Vijaya, buộc ông ta tháo chạy về nước để tôn một vị hoàng tử gốc Champa tên là Rasupati lên ngôi vua ở miền bắc lấy danh hiệu là Jaya Indravarmadeva. Vì muốn tái lập quyền thống trị trên Champa, vua Campuchia là Jayavarman VII gởi một đoàn quân sang Vijaya cùng với Jaya Indravarman Ong Vatuv, tức là vị vua Champa đã bị bắt làm tù binh đưa về Campuchia. Với sự hợp tác của Vidhyanandana-Suryavarmadeva, tức là thủ lãnh của tiểu vương quốc Panduranga, Jaya Indravarman Ong Vatuv tiến quân đánh chiếm Vijaya và giết chết Rasupati. Lợi dụng cơ hội thắng trận này, Vidhyanandana-Suryavarmadeva lọai bỏ Jaya Indravarman Ong Vatuv ra khỏi bàn cờ chính trị và tự tôn mình là quốc vương Champa tại Vijaya, thống nhất lại hai miền nam bắc của vương quốc. Trước tình thế này, Jaya Indravarman Ong Vatuv tìm cách chạy sang tiểu vương quốc Amaravati tại Ông nổi dậy và gia tăng quân đội ở các quận khác nhau Ulik, Vvyar, Jriy và Traik tại Amaravati nhằm củng cố lực lượng để trở lại đánh chiếm Vijaya. Vidhyanandana-Suryavarmadeva xua quân phản chiến, đuổi giết chết Jaya Indravarman Ong Vatuv tại [Yan Bharuv Vijaya]. Ðể trả lời cho biến cố này, vua Campuchia gởi quân sang Champa vào năm 1193 và 1194 để chinh phạt hoàng tử Vidhyanandana-Suryavarmadeva, nhưng cả hai lần đều bị thất bại. Theo tài liệu Trung Hoa, Vidhyanandana-Suryavarmadeva xin Trung Hoa tấn phong vào năm 1198 và được triều đình của quốc gia này phong vương vào năm 1199. Năm 1203, ông ta bị truất phế bởi một vị thái tử (Yuvaraja) Champa khác tên là Ong Dhanapatigrama, cũng là một nhân vật đã từng sinh sống trong triều đình Angkor và rất trung thành với vua Campuchia. Kể từ đó, vương quốc Champa đặt duới quyền cai trị của hoàng tử Ong Dhanapatigrama và trở thành một tỉnh lỵ của Campuchia”.
Đoạn sử trên được Majumdar, R.c. nhắc lại trong cuốn “Ancient Indian Colonies In The Far East Vol.1 “ tại trang 202-205.
Như vậy với phần nghiên cứu của M.Finot về tấm bia No.81 tại Mỹ Sơn và với thông tin từ tấm bia C.216A chúng ta đã đọc được chữ [Bharuv] được nhắc đến trong từ [paliy•bharuv•kṣetraṁ] và [Yan Bharuv Vijaya].
[Bharuv] được viết bằng chữ Cham cổ có ngữ nguyên là [MỚI], trong tiếng Cham hiện đại Akhar Thrah chữ [Bharuv] đã cải biến thành [Baruw] /ba-rau/ cả hai chữ này đều đọc như Ba-Rau trong tiếng Việt và đều có nghĩa là “Mới”. Trong đó,
[paliy•bharuv•kṣetraṁ] Cánh đồng “của/thuộc làng” Mới [Bharuv]; Cánh đồng làng Mới
[Yan Bharuv Vijaya] “Kinh đô của vị thần” Chiến thắng [Vijaya] Mới [Bharuv] ; Kinh đô chiến thắng “mới”.

Và đây, [Bharuv] chính là nguồn gốc tên địa danh/tục danh Tháp Bà Rầu của Tháp Chiên Đàn và địa danh làng Bà Râu hay núi Bà Râu [cek Bharuv] nơi hiện còn di tích Danaok Po Ina Nagar Bharav (miếu Bà xứ sở Bharav).