Pics

Pics

2017/11/12

Căn Nhà Dài Cuối Cùng Của Người Mạ Tại Xã Lộc Nam / Tán Gẫu

Căn Nhà Dài Cuối Cùng Của Người Mạ Tại Xã Lộc Nam – Bảo Lộc, Lâm Đồng
Jaya Thiên
***
Bầu Trời Lộc Nam chiều cuối năm
Trước khi đi vào bài viết xin nhắc lại thời điểm mà tôi đã được nhìn ngắm căn nhà Dài cuối cùng ấy. Đó là vào thời điểm cuối năm 2013, tiết trời se lạnh kèm những cơn mưa phùn…Căn nhà Dài ấy tại xã Lộc Nam – Bảo Lộc, chủ nhân là một anh tuổi trung niên, sống một mình, có đôi mắt sâu thẩm như muốn hút cả nỗi buồn của đại ngàn tây nguyên.

Căn Nhà Dài " Đang Ngắn lại theo Thời gian "
***
Tộc người Mạ xưa kia vốn là cư dân bản địa của cả vùng Đồng Nai Thượng, sống xen kẽ giữa hai vương quốc Chân Lạp và Champa. Sử dụng hệ ngôn ngữ Môn-K`hmer. Nay tập trung nhiều ở các vùng từ Đơn Dương đến Bảo Lộc, một số ở khu vực Đồng Nai giáp với Lâm Đồng.
Đời sống sinh hoạt của tộc người Mạ gắn liền với đại ngàn, chất phát, tự nhiên và hoà nhịp với núi rừng. Họ trú ngụ, sinh hoạt quanh bếp lửa nhà Dài.
*** Ngôi Nhà Dài: Là loại nhà sàn cao từ 0.8m – 1.2m. làm bằng các vật liệu tự nhiên được khai thác quanh nơi cư ngụ. Mỗi căn nhà Dài là đại diện cho một đại gia đình nhiều thế hệ cùng sinh hoạt chung cùng bếp lửa chính. Ban đầu chỉ là một đơn vị nhỏ cho thế hệ đầu tiên, về sau căn nhà Dài càng được nới ra theo chiều dài tương ứng với các “ gia đình “ ( sau khi các thành viên thế hệ đã lập gia đình ), nhưng cho dù nhà dài có dài đến 70-80m đi chăng nữa thì vẫn quay quần chung cùng một bếp lửa tổ tiên.
1. Hệ kết cấu: Cấu tạo hệ khung ngôi nhà đơn giản hệ vì cột, mỗi vì gồm hai cột cái chôn thẳng xuống đất bằng các loại gỗ tốt, sâu khoảng 0.4m, tổng chiều dài ngôi nhà khoảng 4,5-7m.
+ Hệ sàn bằng gỗ, các các thanh ngang được ngàm vào lỗ mộng với cột chính, và xiết chặt lại bằng dây mây rừng đã qua xử lí. Tấm sàn được làm từ tre hay lồ ô được chẻ đôi và dập nát thành các tấm sàn và được buộc chặt theo từng mảng trên hệ thanh ngang của sàn bằng loại dây mây rừng.
+ Hệ hai mái, không có vì kèo, đôi khi có thêm hai mái phụ nơi đầu hồi. Hệ khung lợp mái đc làm từ các thanh Tre, Là A, Lồ Ô được buộc chặt và đặt trực tiếp lên thanh đòn dong chính nối qua hệ vì cột. Tấm lợp được đan bện từ các loại cỏ lau, tranh rồi buộc chặt lên hệ khung mái ấy bằng kĩ thuật buộc dây rừng đặc biệt của tổ tiên,…
+ Hệ bao che bằng những tấm phên tre, hay bằng tấm cỏ tranh được bện chặt lại thành từng tấm và lợp theo kĩ thuật vảy xương cá ( chắc chắn, giữ được sự ổn định và không tạo ra các khoảng thiếu hụt,…)
+ Nhà Dài [ dù dài cỡ nào ] thì chỉ có hai cửa đi lại đặt cạnh hai đầu hồi. Cửa chính hướng nhìn ra khoảng đường lộ, là lối dành cho khách và đàn ông, cửa còn lại dành cho các người nữ trong gia đình. Có hai thang lên nhà bằng gỗ.
+ Nhà dài không có cửa sổ.
Sàn Cao với hệ cột chính được chôn sâu xuống đất. Bên dưới được tận dụng làm nơi chứa củi,...

2. Vật Liệu:
Tất cả vật liệu được sử dụng để xây dựng ngôi nhà đều là các vật liệu xây dựng địa phương, có sẵn tại nơi cư trú, thân thiện với tự nhiên, phù hợp với đặc tính khí hậu và sinh hoạt tộc người Mạ. Các vật liệu này khi khai thác về đều phải trải qua các công đoạn xử lí kĩ thuật riêng nhằm tăng tuổi thọ vật liệu, tận dụng hết các đặc tính vật lí của vật liệu, mỗi căn nhà dài như vậy có thể tồn tại cả tram năm, với chu kì thay, bảo trì lớp áo bảo vệ như vách che, mái định kì tối thiểu 5 năm/ lần. Các bộ phận khác hầu như không phải tu dưỡng, thay mới gì,…
Các loại vật liệu hay sử dụng như: Tranh, tre, lồ ô, là a, vầu, bương, gỗ tram, ổi rừng, cẩm lai,...các loại dây rừng như song, dây mây,…
3. Không gian bên trong ngôi nhà Dài:
Không gian bên trong ngôi nhà Dài quan trọng nhất là bếp lửa vuông. Sẽ có nhiều bếp lửa phụ ( bếp phụ nữ ) tuỳ theo số lượng gia đình thành viên trong căn nhà Dài ấy, nhưng sẽ chỉ có 1 bếp lửa chính, loại bếp vuông, với mỗi cạnh vuông dài khoảng 0.4m (1 heeh ) được làm trực tiếp lên sàn tre, các cạnh được viền lại bởi các thanh gỗ chắc chắn, tạo thành một khung bếp, bên trong là những lớp tro bởi thế sàn nhà được cách nhiệt và chống cháy. Trên bếp là “Đor” dùng hong lương thực. Cạnh bếp lửa chính là “Nào” nơi thiêng liêng, nơi tổ tiên ông bà,…treo cạnh là các chiêng ché quý.
Trong ngôi nhà Dài ấy ta thấy nhiều nhất là các ché rượu cần, cũng là gia tài của ngôi nhà. Trong không gian ấy còn treo các vật dụng, dụng cụ sinh hoạt truyền thống của tộc người Mạ như các dụng cụ xe chỉ, dệt vải, các dụng cụ đi rừng, săn cá, các gùi đeo lưng,…
Các thành viên sau buổi làm việc thì không gian bếp lửa là nơi mà các thành viên quay tụ lại, từ căn bếp ấy các câu chuyện của đại ngàn, của cha ông từ buổi khai sơ được truyền khẩu qua trăm ngàn khẩu tích với lối kể chuyện trời phú không lẫn nơi đâu được.

Trẻ em Mạ

4. Tán Gẫu:
+ Được nhìn ngắm căn nhà Dài, ngồi trong không gian của nó, bên tách trà đắng, lắng nghe những câu chuyện của chủ nhân xung quanh căn nhà Dài ấy quả thật ấm dưới tiết trời có đôi chút lạnh, nhưng cũng không khỏi lạnh và chạnh long khi biết rằng đây là sẽ là căn nhà Dài cuối cùng tại nơi đây, và chỉ sau vài tháng ( bước qua năm mới 2014 ) anh sẽ được nhà nước “ quy hoạch “ cho mình một căn nhà xây nhỏ theo diện nhà tái định cư theo nghị định của chính phủ ban hành “ cao nguyên mới “ [ xưa kia ta ở giữa đại ngàn nên cũ quá rồi, cần phải mới, nên giờ đại ngàn chả còn bóng cây]. Sau nhiều năm anh từ chối căn nhà xây của chính phủ để trú trong căn nhà Dài mà còn nghe mùi khói bếp, trong khi cộng đồng của anh đã từ lâu sống trong mấy căn nhà xây ọp ẹp mà khói bếp lạnh tanh. Anh đã cố giữ cái không gian riêng ấy của mình, của tộc mình, nhưng có lẽ anh chẳng còn hơi sức nữa bởi nhiều lí do. Có thể nhận thấy điều ấy trong đôi mắt sâu thẳm của anh.
+ Một vài dự án “ ma quỷ “ được đưa ra kiểu như quy hoạch lại không gian văn hoá truyền thống của tộc người Mạ trong suốt thời gian qua thật khôi hài. Vì không gian văn hoá bản địa không thể để các ngài ngồi vẽ và quy hoạch được sau khi các ngài đã phá nát đại ngàn và làm dự án “ quy hoạch cao nguyên mới “ đồng nghĩa với cụm “ quy hoạch nông thôn mới “.
+ Một vài nhà Kiến trúc sư hay làm văn hoá cho rằng nhà người Mạ không có cửa sổ nên tối tăm và tù túng. – Tôi cho rằng mấy vị này thuộc loại ăn nói thô thiển thiếu văn hoá và không hề có chút kiến thức hay kinh nghiệm bản thân nào về đặc trưng văn hoá bản địa Tây Nguyên, chưa bao giờ ngủ và ăn dầm ngủ sàn tại vùng đất này vào những thời điểm quan trọng của năm trong một chu kì. Bởi kiểu hình không gian văn hoá, nhà cửa được sinh ra từ đặc trưng của khí hậu địa phương.
+ Có các dự án, hay nhận định của các nhà kiến trúc lẫn văn hoá cho rằng kiểu dáng ngôi nhà, không gian nhà Dài đơn điệu, không hợp thời, nên có một tham vọng lớn là cải tạo, sáng tạo chúng…Tôi cho rằng các vị không nên đụng tới bất cứ thứ gì đã vốn có, đã ăn sâu vào cái hồn của người Mạ hay bất cứ không gian truyền thống nào. Bởi ngôi nhà hay không gian văn hoá ấy không phải là ngôi nhà hay là một không gian đơn giản khác, mà nó đã là cái linh hồn của họ. Xin các ngài đừng chạm vào linh hồn ấy.
+ Và còn nhiều,…Nhưng xin tạm gác lại.
+ Nói tóm lại chúng ta không có quyền làm thay đổi hiện trạng của chúng, hãy để chúng tự do biến chuyển. [ DIỆT - SINH ] thuận theo tự nhiên mà thành.
P/S: Đây không phải là căn nhà Dài cổ xưa. Là căn nhà Dài được dựng lại với tất cả khả năng và những nguyên vật liệu có thể khai thác được mà không bị chính quyền bắt mà anh chủ nhà có thể dựng được.
Chủ nhân ngôi nhà
Căn nhà Dài với lối lên đơn giản


Bếp lửa chính với giàn treo dùng đặt và hong khô lương phẩm
Các vật dụng sinh hoạt hằng ngày và các ché rượu cần


Dụng cụ se tơ - kí ức thời gian



Dụng cụ đi rừng trên sàn tre
Vài cặp sừng Trâu


Bếp vuông


Tình Trạng Xuống Cấp Nghiêm Trọng Của Dự Án Phục Dựng Khuôn Viên Nhà Truyền Thống Người Chăm Trong Khuôn Viên Tháp Poklong Garai

Tình Trạng Xuống Cấp Nghiêm Trọng Của Dự Án Phục Dựng Khuôn Viên Nhà Truyền Thống Người Chăm Trong Khuôn Viên Tháp Poklong Garai

Jaya Thiên

***


Dự án Phục Dựng Khuôn Viên Nhà Truyền Thống Người Chăm trong khuôn viên Đền Tháp Poklong Garai tuy chưa trụ qua được một mùa nắng xứ này thì đã rụng què ngay dưới chân Tháp. Xin miễn bàn về kinh phí – mục đích dùng để thực hiện một dự án cỡ bự kiểu duy – trùng – phục di tích kiến trúc cổ, mà chỉ xin góp vài lời chủ ý của kẻ tắm nắng, nhón từng bước chân mèo với tậm trạng cảnh giác cao độ để cố gắng ghi lại vài hình ảnh bên trong các đơn vị nhà này, nhân dịp về thăm xứ nắng. Và cũng là tình trạng chung của các dự án phục dựng khác tại Việt Nam.
Tại Việt Nam hiện nay chưa có một chương trình, trường lớp nào đủ tầm để nặn ra một khoa Bảo Tồn – Phục Dựng Di Tích Kiến Trúc Cổ. Nhũng người hiện đang kiêm nhiệm vụ này hầu hết là những tay ngang, vớt vát một vài chiêu che mắt thiên hạ qua những lần đổi trâu bán bò để học được vài thủ thuật này. Các thủ thuật này được xây dựng trên nền tảng: Phá Nát Bét Di Tích.
Khuôn Viên Nhà ở Truyền Thống Của Người Chăm thuộc dạng công trình Kiến Trúc Gỗ. Vậy có những nguyên tắc vàng nào cần ghi nhớ nào trong Kiến Trúc Gỗ:
+ Xác định được Tầm quan Trọng của Kiến Trúc Gỗ
+ Tính Đa Dạng của Kiến Trúc Gỗ
+ Chủng loại – Chất lượng Gỗ
+ Tính dễ Tổn Thương
+ Tình Trạng ngày càng hiếm hoi các dạng Kiến Trúc Gỗ này
+ Sự Đa Dạng của các biện pháp và các xử lý Truyền thống lẫn Hiện đại.
+ …
***
NHỮNG ĐIỂM SAI VÀ TÌNH TRẠNG XUỐNG CẤP TẠI KHUÔN VIÊN NÀY:
*** Về Bố Cục Không Gian:
- Bố cục không gian chật hẹp không đủ để dựng đầy đủ các đơn vị nhà truyền thống mặc dù phần đất đủ thùa.
- Chăm quan trọng nơi cổng vào, nhưng trong dự án này ta có thể thấy cách bố trí cổng đập mặt ngay vào mạn sườn ( thọc mạn sườn ) của “ nhà “ không rõ “ nhà “ gì ngay tại vị trí đáng lẽ là vị trí của đơn vị Sang Tôn.
- Bố cục Sang Mưyâu sai hướng. Lẽ ra hướng chính sẽ quay mặt nhìn mặt Sang Tôn.
- Bố cục Sang Gar, Sang Yơ, Sang Mưyâu rời rạc không liên kết liền mạch tạo ra một không gian một không gian khép kín, kết nối nhau bởi các lối hành lang và lối cửa thông nhau.
*** Về Vật Liệu, Biện Pháp Thi Công:
- Vật liệu chủ yếu để tạo dựng một không gian kiến trúc này bao gồm các vật liệu cơ bản sau: Gỗ, Đá, Hỗn Hợp Đất Sét, Tre, Rơm rạ, Dây rừng ( Dây Mây,…). Nhưng sau khi khảo sát thì ta thấy Dự án sử dụng các loại gỗ tạp, kém chất lượng để làm Kết cấu Cột.
- Đá dùng để đỡ các chân cột này thuộc loại đá tạp, không đồng nhất, không nguyên khối,…Tổng khối lượng Đá để phục vụ Dự án này chưa tới trăm viên, và có thể dùng loại đá Xanh có thừa tại địa phương với giá 7k/viên + Đảm bảo đẹp. Nhưng tìm xanh con mắt tại dự án này vẫn không thấy viên nào.
- Đất sét trộn rơm được thay bằng hỗn hợp: đất sét ít hàm lượng Lanh ( không đủ tiêu chuẩn ) trộn ít rơm + Cát + Xi Măng ( Kĩ thuật pha trộn này tôi mới thấy lần đầu ).
- Vỏ bao che bên ngoài bằng đất sét trộn rơm được thay bằng đất sét ít hàm lượng Lanh ( không đủ tiêu chuẩn ) trộn ít rơm + Cát + Xi Măng ( Kĩ thuật pha trộn này tôi mới thấy lần đầu ). Hệ khung xương được đan bằng tre chẻ, được buộc bằng dây rừng tạo thành các ô vuông có kích thước khoảng 20x20cm được thay bằng hệ thanh xương rời rạc, kích thước các ô vuông lớn hơn 30cm buộc lại bằng sợi thép.
- Hệ khung sàn cách đất tại dự án được tận dụng lại các thanh xà gồ tạp, kém chất lượng, sàn lót ván bằng gỗ Cốt Pha được dùng làm Cốt Pha trong các công trình xây dựng hiện nay, chỉ dùng được 1 lần rồi bỏ. Hệ vách ngăn các không gian các phòng cũng được dùng loại ván Cốt Pha này.
- Hệ mái sơ xài, không đúng quy cách, các thanh xà gồ, li tô được tận dụng triệt để từ các thanh xà gồ tạp, ván Cốt Pha,…
- Không gian Bếp sai, và cái sai trầm trọng nhất là vị trí – quy cách bếp lửa.
- Lại kèm vài cây que sắt làm cây Thu Lôi,…
- V.v…
Quy Cách – Phương Pháp Phục Dựng tại Dự án này không tuân thủ được những tiêu chí vàng, không tôn trọng giá trị phục vụ, không có sự đồng bộ trong việc lựa chọn vật liệu, đặc biệt là loại kết cấu Gỗ với kĩ thuật ghép mộng, phương pháp thi công sơ xài, với các liên kết bằng cách đóng đinh, siết bulông,…Không xử lý theo kĩ thuật truyền thống,…
*** Để chỉ ra hết các điểm sai ( sai nghiêm trọng ) của dự án này về mặt Công Trình hiện hữu thôi đã không đủ thời gian, chứ chưa kể đến mặt Giá Trị Văn Hoá, Triết Lý của một khuôn viên Chăm. Nên xin trích vài hình ảnh để cho mọi người nghía qua cho nhanh gọn. Mọi thắc mắc hay ý kiến trao đổi thêm sẽ xin trả lời vào một ngày mát trời.
Cổng vào!!!


Vài thanh sắt nhô lên làm cột thu lôi chống sét!!! Có tác dụng!!!

Sàn lót bằng cốt pha rẻ tiền dùng 1 lần trong xây dựng dễ mục nát

Bếp!!! Sai với quy cách bếp Chăm, sàn bếp là sàn đất và tiếp đất.


Hỗn Hợp đất sét không đúng tiêu chuẩn quy cách,...

Các Thanh Lam che được liên kết bằng Đinh thay vì Đục Lỗ Ngàm( Phản Kĩ Thuật lắp ghép gỗ )

Vị Trí Sang Mưyâu sai hướng

Dòng Cảnh báo về tình trạng Dự Án

Có thể nhìn rõ hệ khung xương lớp vỏ bao che





Đơn vị “ Thang Yơ “ Cuối Cùng Tại Làng Chăm Mỹ Nghiệp

Đơn vị “ Thang Yơ “ Cuối Cùng Tại Làng Chăm Mỹ Nghiệp
***
Đó là Thang Yơ cuối cùng gần giống với bản gốc nhất tại làng Chăm Mỹ Nghiệp – Ninh Thuận. Hiện trạng Thang Yơ này có chút thay đổi ( không lớn ) do nhu cầu cuộc sống hiện tại nhưng vẫn giữ được phần “ hồn “ của nó. Tính đến thời điểm bây giờ Thang Yơ này đã trụ được ít nhất 70 mùa nắng, và nếu theo chu kì vốn có của nó thì đáng lẽ nó cũng đã được thay bộ áo mới, nhưng quan sát theo thực trạng thì nó vẫn có thể trụ thêm 10 mùa mưa nữa. Thế thôi, đã thoã nắng mưa rồi đó chi.
Trước khi đi vào chi tiết nổi bật của Thang Yơ này xin nhắc lại vắn tắt về Đơn Vị Thang Yơ trong khuôn viên nhà ở Truyền Thống của Người Chăm cho mọi người tiện theo dõi.
Thang Yơ là đơn vị nhà hết sức quan trọng, và luôn được dựng đầu tiên trong khuôn viên nhà ở Truyền thống của Người Chăm. Mọi lễ tục của gia đình luôn được thực hiện ngay trong đơn vị Thang Yơ này, nên có thể tạm gọi là Nhà Tục. Thang Yơ được xem như là bản thể của con người với 3 Phần tương ứng với 3 Không gian như: 1 Akok: Tượng trưng cho cái đầu của con người; 2 Tata tượng trưng cho lồng ngực; 3 Tian / Tung tượng trưng cho cái bụng người.
Với sự quan trọng của nó, nên để dựng Thang Yơ đòi hỏi trải qua khoảng thời gian kiêng cữ nhất định, ngay cả việc lấy cây rừng để dựng lên bộ khung kết cấu ( Kết cấu Vì Cột ) không có vì Kèo. Với hệ 3 cột chính + 6 cột phụ tạo thành hệ kết cấu chính, Thanh đòn Dông được đặt trên 3 cột chính ( Cột chính giữa ). Và điểm quan trọng nhất là 9 Cột này phải được lấy từ một bụi, và nếu một bụi đó không đủ về số lượng thì có thể xin thêm cây từ bụi khác, nhưng phải làm lễ để nhập chung lại một bụi.
Mặt bằng theo hướng Đông – Tây. Gian ngoài cùng (1) có 3 cánh cửa, cánh phía Tây mở đối diện với Thang Gink ( Nhà bếp ) như cái miệng thông suốt qua cánh cửa mở về phía Đông vào (3) như đưa vào Tung ( Bụng ).
+ [ gian (1) là nơi diễn ra các lễ tục của gia đình, là nơi gia đình tiếp khách, gian này mở một cánh cửa sổ về phía Bắc,...]
+ [gian (3) là không gian kho chứa lúa của gia đình, gian này không có cửa sổ, với cửa kho ( không cánh ) chỉ là tấm ván dựng cao ngang đùi,...]
+ [ gian (2) như trái tim của ngôi nhà, nơi diễn ra lễ cưới xin, gian này tượng trưng như cái lồng ngực, nơi trái tim ngụ tại và theo quan niệm đó thì gian này không mở cửa sổ, để tối,...]
Sàn của Thang Yơ là loại sàn cao cách đất, với hệ khung sàn bằng gỗ, sàn được lót bằng tre dập nát tạo thành mảng sàn tre dẻo/dai/êm...Và với loại sàn này đã giúp tạo thành dòng đối lưu không khí dưới sàn, làm cho sàn nhà không bị ẩm. Bởi thế kho thóc (3) luôn được khô thoáng, lúa thóc vì thế mà không bị mối mọt, ẩm mốc hay mọc mầm,...
Mái trước đây được lợp bằng tranh, nếu lấy đúng loại ( tuổi ) của tranh và qua kĩ thuật xử lí thì loại vật liệu lợp mái này đạt tuổi thọ 100 năm. Hệ 4 mái, với kết cấu mái gồm các thanh rui mè được đặt trực tiếp lên trên hệ cột + đòn dông, buộc chặt bằng dây rừng.
Hệ tường đất sét trộn rơm, với hệ khung xương được đan lại từ các thanh tre/nứa chẻ đôi buộc lại với nhau tạo thành hệ khung vững chắc,...
*** Tất cả các vật liệu ( Vật liệu tự nhiên ) được sử dụng đều qua quá trình/ kĩ thuật xử lí đặc trưng riêng của người Chăm để đạt được tuổi thọ, sự bền vững tối ưu nhất của vật liệu tự nhiên này,... Kĩ thuật lắp ghép ( Ghép lỗ mộng + buộc dây rừng ) truyền thống, và không được sử dụng bất kì loại liên kết kim loại nào khác ( như đóng đinh, bu lông,...) vì như vậy là đã hiểu sai cơ bản về tính chất vật liệu,...
*** Thang Yơ mà mình đi khảo sát lại cho thấy vẫn giữ được phần lớn gần với nguyên bản hơn, với các không gian chức năng có phần thay đổi tại số (3) được tận dụng lại làm phòng ngủ, có trổ thêm 1 cánh cửa mở về hướng Đông. Sàn nhà được sửa lại thành nền Ximăng , Mái được lợp lại bằng mái ngói. Còn lại đều vẫn là nguyên bản, với tuổi thọ ít nhất 70 năm...
Thang Yơ với Cửa mở đối diện Bếp + Hiên trước
Bậc cửa ( Cửa Thấp ) + Có thể nhìn thấy được Khung gỗ ( hệ khung sàn ) dù nền sàn đã được đổ XiMăng
Cửa mở về Phía Bếp nhìn từ gian (2)

Cửa mở vào Gian (3), sau này trổ thêm cửa sổ để tận dụng làm Phòng Ngủ
Khung cửa vào gian (3) Tung, với dấu vết ngạch chặn cao qua đùi,...
Gian (1) với cửa sổ trổ hướng Bắc + Ciet treo trên trần
Chốt ngạch cửa
Có thể nhìn rõ hơn về kĩ thuật liên kết mộng ngàm và buộc bằng dây rừng,qua dấu vết thời gian vẫn còn nguyên vẹn, với tường đất sét qua 70 mùa nắng cũng đã thoả một vòng đời,...
Tường đất tiếp giáp dạ dưới mái ngoài
Hệ 4 mái, với mái lợp được thay bằng ngói ximăng + Nhìn rõ cánh cửa được trổ thêm tại vị trí gian (3)
Vài hình ảnh chạm khắc hoa văn trang trí...
Cột Giữa ( Chính )
Hệ Khung nhà ( nhìn thấy Cây Cột Giữa, cột chính ), liên kết với đòn Dông bằng cách buộc lại bằng dây rừng. Nhìn thấy hệ Rui + mè gác trực tiếp lên hệ khung này,...
Cột góc ( Phụ )
***
Ừh! Ngôi nhà coi như đã hoàn thành một vòng đời của nó rồi đó thôi,
còn ta ở lại còn có nhớ chi không!

2017/05/01

Tìm Lại Dáng Nhà Xưa ( Tóm tắt ) - Jaya Thiên


***
***       Thử đi ngược lại về mặt không gian lẫn thời gian, dọc dài các Tỉnh Duyên hải Miền Trung, ta sẽ tìm, chắp vá lại được những đặc điểm, vết tích mà khi xưa con dân đất nước Champa xưa một thời hung thịnh rực rỡ đã để lại cho mai sau, với những quần thể kiến trúc Tháp, các giếng nước ngọt quanh năm không cạn nước, với các tục lệ thờ cá Ông, với những làng nghề thủ công đúc đồng, dệt vải, nặn gốm, kiến trúc nhà ở,…Qua bao cuộc biến chuyển lịch sử, Chăm di dời và co cụm, có thay đổi lai qua nhiều đời,…nay cộng đồng ấy tập trung nhiều nhất tại hai tỉnh Ninh – Bình Thuận. Trong những di sản mà người Chăm để lại phải kể đến quần thể kiến trúc nhà ở truyền thống. với bố cục khuôn viên 1-3-5-7 đơn vị nhà trong một quần thể khuôn viên ở. Để thích nghi cho đặc điểm khí hậu này mà người Chăm đã sáng tạo ra loại hình nhà tranh vách đất, hai lớp mái,…để phù hợp với điều kiện tự nhiên cho vùng khí hậu duyên hải này sao cho tốt nhất.

***       Qua thời gian, loại hình nhà truyền thống này có sự thay đổi nhiều, bởi do sự tiếp nhận của lớp người mới, với tập quán sinh hoạt mới và kể cả quan niệm, tư duy tâm linh, tôn giáo kèm theo. Tuy vậy chúng ta vẫn còn có thể nhận biết được chúng qua vài đặc điểm đặc trưng nhất. ( Sẽ được trình bày trong phần sau ).
Với sự thay đổi mới này đã mang cho nó một cái tên gọi mới tuỳ theo vùng miền như:
- Nhà Mái xông (Quảng Trị)
- Nhà Bỏ đất (hay Trần bích) (Quảng Nam)
- Đảo Lý Sơn gọi là nhà Đắp (Quảng Ngãi)
- Nhà Lá mái. (Bình Định, Phú Yên)
- Sang Lâm ( Ninh – Bình Thuận )
Trong các tỉnh thành trên duy chỉ có ở Ninh – Bình Thuận là có quy mô và đầy đủ nhất cả về mặt kiến trúc lẫn quan niệm Nhân sinh – Vũ trụ quan. Trong bố cục khuôn viên nhà truyền thống Chăm có thể phân loại như sau: Nhà hai lớp mái, nhà Chân cột chôn sâu dưới đất, nhà cột trên đá tảng, nhà có nền đắp đất và nền cách đất. Ở các tỉnh thành khác thì tên gọi khác đi và quy mô nhỏ hơn. Nguyên do vì sao lại có tên gọi khác là do bởi khi tiếp nhận và duy trì thì các đơn vị nhà được dựng riêng lẻ, không đủ các đơn vị như ban đầu, nên chức năng mục đích, tên gọi,…mà theo đó thay đổi theo. Tuy nhiên gom góp lại ta có thể nêu ra vài đặc điểm dưới đây theo từng địa phương rồi sẽ thấy những đặc điểm ấy đều nằm trong tổng thể Nhà truyền Thống Chăm hiện nay.
                                                           Nhà người Chăm Ninh Thuận
                                                               Nhà lá Mái ở Phú Yên

***       Các đặc điểm chung:
a.       Hệ thống khung nhà ( Kết cấu khung nhà ): Khung gỗ vì kèo, vì cột chịu lực. Gồm hệ vì 3 cột, vì kèo 3 cột ( trốn cột giữa ), vì kèo 4 cột ( trốn cột giữa ) và vì kèo 6 cột ( trốn cột giữa).
-          Hệ khung này được chôn sâu dưới đất hay đặt trên đá tảng tuỳ vào loại nhà.
-          Vách đắp đất sét trộn rơm rạ, vôi,…Lõi làm bằng các bổ cột và hệ khung lưới đan bằng tre đã qua xử lí ngâm nước, cột lại bằng dây mây tạo thành ô lưới khoảng 10cm x 10cm.
b.       Hệ sàn nhà: Ta có sàn đắp đất sét trộn rơm nện chặt và sàn gỗ cách đất.
c.       Phần Mái:  Hệ 4 mái. Tuỳ vào đơn vị nhà mà có hệ 1 lớp mái hay 2 lớp mái. Mái được lợp bằng cỏ tranh hay rơm rạ, bện chặt với nhau thành mảng rồi buộc vào hệ thống rui mè bằng dây mây, mái dày lên đến 50cm.
-          Với hệ 2 lớp mái, với phần mái dưới bằng đất sét được đắp và nện chặt vào hệ thống khung lưới mái làm bằng tre đã qua xử lí, đặt trên hệ đà gỗ đã qua xử lí để tránh mối mọt. Đất sét được nện chặt bằng chày cho đạt đến độ cứng ưng ý là có độ dày khoảng 10cm. Để làm mái trên người ta cho bổ các trụ chính đi xuyên qua lớp mái đất sét này với chiều cao đã được tính toán trước. Hệ mái trên được lợp bằng cỏ tranh hay rơm rạ.
-          Tuỳ vùng khí hậu mà khoảng cách giữa hai lớp mái có sự khác nhau như: Ở Quảng Trị thấp nhất, Quảng Nam trung bình, Bình Định cao nhất.
d.        Bố cục mặt bằng: Do sự tiếp nhận và biến đổi qua nhiều thế hệ nên bố cục khuôn viên nhà ở đây có quy mô và quan niệm khác nhau.
Nhà chính: thờ cúng và nơi nghỉ ngơi của đàn ông. 
Nhà cầu: nhà nối với nhà chính cũng là nơi nghỉ ngơi của phụ nữ. 
Nhà lẫm: kho chứa lúa. 
Nhà bếp (bao gồm sân phơi bên trong): nấu nướng và chế biến nông sản
. 

***       Kiểu kiến trúc này đã cho chúng ta thấy về sự thích nghi một cách có hiệu quả với thiên nhiên, đảm bảo cân bằng về mặt sinh thái tự nhiên, thân thiện với môi trường. Ngôi nhà được bao bọc bằng hệ vách đất trộn rơm, tăng khả năng chống cháy và điều hoà thân nhiệt cho ngôi nhà. Phần mái nhà dù bị cháy hay dột thì phần mái dưới có chức năng bảo vệ, chống cháy và dột.

***       Những đặc điểm trên được góp nhặt từ các ngôi nhà riêng lẻ ở các tỉnh thành, tất cả đều chứa đựng trong khuôn viên nhà truyền thống người Chăm. Hẳn cho chúng ta thấy ở đây có sự kế thừa, ảnh hưởng từ nền kiến trúc nhà ở của người Chăm. Và cần có đầu tư nghiên cứu chuyên sâu hơn để đi đến đáp án.