Pics

Pics

2024/03/30

Kiến trúc nhà ở truyền thống người Cham - Nhà có cổng hướng nam.

 Nhà có cổng hướng nam.

Như ''Nhà có hàng rào thưa'' như thể đã xác xác định ranh khuôn viên ngôi nhà rồi thì, cái cổng chính của khuôn viên ngôi nhà ''luôn luôn'' đặt ở hướng nam, nằm ở phần góc tây nam của khuôn viên ngôi nhà. Ấy là hướng mở của cuộc đất mà ta sinh sống. Và nếu ta nhìn trên tổng mặt bằng bố trí các đơn vị nhà có hướng mở về phía nam, che chắn phía bắc bớt đi.
Về việc bố trí hướng mở và cái cổng này thể hiện được kinh nghiệm của cha ông ta với thời tiết khí hậu địa phương (phong-thủy) vừa để hút được khí/gió lành vào nhà từ phía nam và che chắn bớt một phần gió bấc lạnh. Còn là để ''hút của cải vào nhà'', tất nhiên là hút vào cái kho chứa đựng của cải đang ngự ở gian bắc,đông-bắc.
Về việc mở cánh cổng ở hướng nam khuôn viên này nó còn có những nguyên nhân/quan điểm về nhân sinh quan của con người với tự nhiên (đất-trời), người Cham quan niệm rằng lối mở trục đông-tây là lối đi của thần/yang, nam-bắc là lối của người phàm, vì thế vị trí cánh cổng mở hướng nam cũng như đặt đúng trục của người phàm mà không phạm vào trục của thần/yang. Và cũng là hướng Sinh.
Lối cổng vào khuôn viên thụt lùi sâu vào trong một khoảng, lối đi hai người tránh nhau. Cánh cổng không được mở trực diện với lối cửa nhà, rõ ràng nó chứa đựng sự ý nhị giao tiếp giữa bên ngoài/bên trong với nhau. Lối mở không trực diện với lối cửa đi này cũng là để tránh ''rơi vào miệng trăn'', bởi cổng khuôn viên cũng được xem như cái miệng con trăn ''pabah klan'', ''tránh rơi vào miệng trăn'' cũng là lối ứng xử ý nhị với tự nhiên, là để tránh bớt những tai ương không mong muốn.
Khách đến nhà, trên lối dẫn đến cửa cổng kịp đứng lại, tằng hắng báo hiệu cho gia chủ bên trong đủ nghe mà tươm tất lại, hay khách cũng đủ thời gian quan sát trước khi quyết định bước vào trong khuôn viên tùy vào ''hoàn cảnh tế nhị'' đang diễn ra trong khuôn viên gia chủ. Bên hông cánh cổng ấy luôn để một lu nước mát, vừa để uống, vừa để gột rửa phiền toái ra khỏi người để ta lẫn khách vào nhà với tâm thế mát/sạch nhất. Cái lối hành xử ấy sao đẹp thế.
Ngày nay, lối cổng có khác đi nhiều bởi nhu cầu sử dụng, hay cái quan điểm của cha ông không còn được gìn giữ với lớp trẻ ngày nay. Cái kinh nghiệm ứng xử với tự nhiên, và con người đã dần mất đi rồi.


Kiến trúc nhà ở truyền thống người Cham - Nhà có Rào thưa.

 Nhà có Rào thưa.

Hàng rào như một ranh giới phân chia không gian (khuôn viên) nhà với nhau. Các khuôn viên nhà ấy được hình thành theo trục Bắc-Nam, tạo thành dãy khuôn viên, mỗi dãy khuôn viên cách nhau lối 2 xe trâu có thể tránh nhau thoải mái.
Thông thường, dãy khuôn viên đất theo trục bắc-nam ấy là đất rẫy (apuh) của chị em trong cùng dòng tộc, và như thế mô hình khuôn viên nhà theo trục bắc-nam ấy là một mô hình "liên kết theo dòng tộc". Bởi thế, mỗi khuôn viên hình thành nên ranh giới mang tính ước lệ bằng những hàng rào thưa, vừa đảm bảo tính an toàn về mặt che chắn, nhưng không ngăn cách mối kết nối dòng tộc, gia đình.
Hàng rào thưa thuở ấy thường được làm bằng tre, bằng lăng, và cả hàng rào cây xương rồng,...nó đảm bảo về mặt thông thoáng tự nhiên, vừa đủ ngăn bớt gió bụi mà không tách mình khỏi cộng đồng.
Ngày nay, chúng ta thấy đủ loại kiểu hàng rào với các nguyên vật liệu kiên cố hơn, nhưng rõ là "thiếu đi cái hồn, thiếu đi tính kết nối".
Từ cái nét hàng rào thôi, chúng ta cũng có thể nhìn thấy cả tâm hồn của gia chủ bên trong, sự thân thiện, hoà đồng, cởi mở đầy ý tứ với tự nhiên, với cộng đồng cũng được khắc nét vào cái lối hàng rào ấy.
P/s: Ảnh do tác giả Nguyễn Văn Kự chụp tại làng Cham Bàu Trúc.





Kiến trúc nhà ở truyền thống người Cham - Nhà có Sân

 Nhà có Sân

Cái Sân là khoảng không gian bằng phẳng trước mặt của những căn nhà. Cái Sân được hình thành nên từ sự phân chia bố cục không gian ước định với các không gian kiến trúc khác. Người Cham gọi là "mblang sang"-sân nhà.
Là khoảng không gian công cộng phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt diễn ra tại khuôn viên nhà, là nút giao thông chính, là không gian đối lưu khí trước những căn nhà.
Một khoảng lùi vừa đủ mang lại sự gắn kết hài hoà giữa các không gian kiến trúc.
Sân, có thể được lát bằng gạch, hay chỉ là cái sân đất đầm chặt. Và nhờ đó, cái lợi thế của nó là làm giảm đi/hấp thụ bức xạ mặt trời chiếu vào khoảng sân ấy, cho ngôi nhà bớt nóng hơn, lợi thế này hơn hẳn cái sân bê-tông như ngày nay.
Ở các vùng quê miền trung, gắn liền với canh tác nông nghiệp, cái sân càng phát huy sự hữu ích của nó, là nơi để phơi sàng lúa thóc và các sản phẩm nông nghiệp sau khi thu hoạch,…
Cái Sân trở thành không gian gắn kết thành viên gia đình với nhau, với không gian và thời gian mà con người hoà mình vào trong nó, ở đó, nó đóng góp để tạo nên các lớp kỉ niệm/kí ức mà một không gian kiến trúc mang lại. Vừa là điểm kết nối bên trong lẫn bên ngoài.
Cái Sân không chỉ đóng góp về mặt giải pháp kiến trúc, hay đơn giản chỉ là một công năng kiến trúc cần có, mà nó vượt thoát để tạo nên một giá trị biểu tượng của văn hoá gia đình, cộng đồng.
Ngày nay, với sự thay đổi chóng mặt, cái Sân dần thay đổi cả về mặt không gian chức năng và kích thước, một vài trường hợp kiến trúc nhà ở đã mất đi hẳn cái Sân ấy. Nhưng, "Nhà có Sân" là điều cần thiết, và nên được ưu tiên với quy mô và hình thái phù hợp hơn để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt lẫn xây dựng không gian văn hoá của một gia đình.
P/s: Cái Sân trong không gian kiến trúc của người Cham có những điểm tô khác, là không gian chứng kiến những sinh hoạt đời thường lẫn các nghi lễ cuộc người trên khoảng sân ấy, là không gian kết nối giữa gia đình và cộng đồng, xoá nhoà hiềm khích cá nhân để gắn kết với tộc họ, với cộng đồng. Vì thế cái Sân luôn cần phải rộng.
Cái Sân còn chính là văn hoá, văn hoá của tộc họ, của cộng đồng Cham, với những nghi lễ cuộc người diễn ra quanh năm.



Kiến trúc nhà ở truyền thống người Cham - Hãy để "Nhà có hiên"

 Hãy để "Nhà có hiên"

Ngoài việc để cho "Sàn hở và Mái thở" thì, ông cha ta còn dùng giải pháp mở mái hiên (hè nhà), người Cham gọi là "Craok Cac". Có thể thấy mái hiên này được mở ra các mặt của căn nhà, đặc biệt là ở mặt chính (các mặt chính của các căn nhà hướng về cái sân chung ở trung tâm).
Ở phần mái hiên được mở rộng ra thêm, ở đó được cấy thêm hàng thanh lam đứng, người Cham gọi là Gai Jeng (Talei hayua)/chấn song.
Với giải pháp mở mái hiên cùng dãy thanh lam đứng này đã trở thành một không gian đệm, tăng thêm về công năng sử dụng, làm giảm đi bức xạ mặt trời chiếu trực tiếp vào bề mặt tường nhà, giảm bớt luồng gió xộc thẳng vào nhà. Đồng thời tăng thêm tính thẩm mỹ kiến trúc lẫn tâm lí sinh hoạt.
Đây cũng là điểm nhận diện, giải pháp cho chúng ta học tập trong căn Nhà ở xứ Miền Trung mà ông cha ta để lại.





Nhà ở truyền thống người Cham - Hãy để cho "Sàn hở và Mái thở"

 Hãy để cho "Sàn hở và Mái thở"

Với đặc điểm khí hậu khá khắc nghiệt xứ Miền Trung, đặc biệt vào mùa khô, nhiệt độ tăng cao, độ ẩm giảm xuống thấp, gây cảm giác khó chịu khô hanh. Vào mùa mưa, một số nơi độ ẩm tăng cao, ẩm ướt,…
Bằng kinh nghiệm, ông cha ta đã làm nên cái Nhà tiện nghi nhất, và nó đã trở thành điểm đặc trưng, nhận diện cho cái Nhà ấy. Đến nay, các giải pháp kiến trúc ấy vẫn còn nguyên giá trị về mặt giải pháp kiến trúc cho kiểu nhà Miền Trung. Và một trong những giải pháp chính ấy là “Để cho Sàn hở-Mái thở”.
* Sàn hở: Sàn cách mặt đất từ 30-50cm. Tạo một khoảng hở với mặt đất nhằm cách ẩm với mặt đất, lợi dụng luồn gió đối lưu tự nhiên để thổi, thoát khí nóng, ẩm từ mặt đất dưới sàn nhà lên.
* Mái thở: Là giải pháp thoát khí nóng dưới hầm mái bị hun nóng bởi sức nóng mặt trời trong ngày bằng đối lưu khí tự nhiên. Hệ hai lớp mái, đồng thời đã tạo nên một lớp đệm không khí cách nhiệt, giảm bức xạ mặt trời chiếu trực tiếp từ lớp mái trên vào nhà. Khe chân mái (mái trên-mái dưới), đóng vai trò như một khe thoát khí nóng hầm mái bằng gió tự nhiên nhanh nhất,…
Với 2 giải pháp kể trên, chúng ta có thể ứng dụng để chống nóng cho nhà Miền Trung.
*P/s: Kiến thức của Ông cha để lại vẫn còn nguyên giá trị, chúng ta hãy vô tư “copy và paste”, “chia sẻ và ứng dụng”, hay đơn giản là “Trọc phú kiến thức” cũng được, miễn không sáo rỗng, không ra vẻ đạo mạo là okei thôi ha.






Cần nhìn lại về một chi tiết kiến trúc Champa.

 Cần nhìn lại về một chi tiết kiến trúc Champa.

Đó là chi tiết kiến trúc được trưng bày trong Bảo tàng điêu khắc Chàm Đà Nẵng, phần cấu kiện kiến trúc này được chú thích "Bao Lơn".
Thông tin hiện vật:
Hiện vật được phát hiện tại thành Chà Bàn (Bình Định)
Niên đại khoảng TK12-13
Kích thước: 150x35.5x38 (cm), Lỗ tròn D=2.5cm
Hiện vật nằm lọt thỏm trong góc, thuộc phòng Bình Định-Kontum. Có lẽ đây là hiện vật có ít thông tin nhất cho đến hiện nay.
Đây là hiện vật bằng đá, dạng thanh dài, vuốt cong nhẹ ở hai đầu, thân có chạm hoa văn, đáy có rãnh, chính giữa đỉnh sóng co một lỗ âm.
Qua quan sát, chúng tôi có đưa ra vài gợi ý nhằm xác định lại cấu tạo-chức năng chi tiết kiến trúc với hiện vật này.
- Đây là chi tiết kiến trúc Bờ Nóc (mái) thuộc về một công trình Kiến trúc Đền, hay của tháp tiền điện/tiền sảnh của Kalan chính.
- Hai đầu Bờ Nóc (mái) và khe rãnh âm dưới đáy có tác dụng như một ngàm khoá/cố định thành phần kiến trúc này vào hệ thống kết cấu đỡ mái (xem hình vẽ mô tả)
- Lỗ âm vị trí giữa thanh, trên sóng đỉnh Bờ nóc (mái) có tác dụng để gắn một chi tiết hoa văn kiến trúc.
- Chi tiết Bờ nóc (mái) này, chúng ta thường bắt gặp hình thái kiến trúc này trong kiểu kiến trúc Đền thờ Champa.


All react

Dvarapala Đồng Dương

 Thú vị với cặp Dvarapala Đồng Dương. Đây là cặp thần Hộ pháp (trong 8 vị Hộ pháp Dvarapalas), nằm tại vài đại thứ 3. Với Dvarapala chân giẫm lên con gấu thuộc phương Đông Bắc cửa tháp, và Gvarapala chân giẫm lên con trâu thuộc phương Đông Nam cửa Tháp.

Hộ pháp Dvarapalas Đồng Dương hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Điêu Khắc Chàm Đà Nẵng.








Hamu Craok (Bàu Trúc)

 Hiện nay, các làng nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị mai một và thất truyền. Vấn đề bảo tồn và phát triển làng nghề gốm truyền thống Hamu Craok (Bàu Trúc) cũng là đáng quan tâm với hiện trạng tốc độ phát triển hiện nay.

Trong đó, một trong những bài toán then chốt là quy hoạch và bảo tồn được vùng nguyên liệu đất sét, thứ chất liệu để nuôi hồn gốm Cham Hamu Craok (Bàu Trúc). Vùng nguyên liệu sét thô này được khai thác ở cánh đồng dọc bờ Sông Quao (vốn có tên là kraong Kruec, sông cây quýt rừng), phù sa chứa hàm lượng sét cao được bồi đắp hằng năm để tạo nên vùng nguyên liệu này.
Gốm Cham Bàu Trúc sẽ biến mất nếu không quy hoạch được vùng nguyên liệu Sét này, và để bảo tồn được vùng nguyên liệu này, chúng ta cần cái nhìn xa hơn là phải quy hoạch bảo vệ vùng nguyên liệu đầu nguồn, cái con đường mà thứ phù sa sét này trôi theo dòng nước mỗi mùa mưa về hạ nguồn sông Quao.
Các phụ lưu của con sông Lanh Ra, mang theo phù sa sét từ các dãy núi (núi Lanh ra, Da Ó,...) nhập vào tạo thành dòng Lanh Ra, dòng này đi về phía hạ lưu qua khu rừng có nhiều cây Quýt rừng (Kruec glai) nên có tên Kraong Kruec (đây chính là dòng sông Quao).
Sông Lanh-Ra chính là kraong Halan-raya (Sông "đất" sét). Cái tên hàm chứa nguồn của nguyên liệu gốm Cham Hamu Craok.










"Phun Kem" (cây Mã tiền, cây củ chi)

 Xa xa kia chính là vũng Nại (sri binây, Ninh thuận). Đứng trên đỉnh đèo núi Ô-Căm, nơi có đập Ô-Căm có thể nhìn thấy rõ cửa ngõ Bal Huh (Cổ Hủ).

Núi Ô-Căm, có đập Ô-Căm do người dân dùng đá, gỗ đắp thành để dẫn nước vào cánh đồng lúa trong thung lũng nhỏ từ thuở xưa. Cái tên núi, tên đập Ô-Căm được phiên âm lại theo tiếng địa phương, dựa trên đặc điểm địa danh có loài cây "Phun Kem" (cây Mã tiền, cây củ chi).




Cầu Mai Nương/Ma Nương

 Cầu Mai Nương/Ma Nương

Đây là cây cầu toạ lạc ở thôn Mai Nương/Ma Nương nằm dọc con sông Dinh, là con sông lớn nhất xứ Pangdurangga (Ninh Thuận). Con sông gắn liền với vị thần-vua Po Klong Garai.
Con sông này có nhiều tên gọi khác nhau tuỳ vào giai đoạn lịch sử và từng khúc sông mà nó đi qua, ví dụ như: Trong sách Đại Nam nhất thống chí gọi là sông Phan Rang, ngày xưa tên là sông Mai Lang, Mai Nương, Man Rang, đến xã Đắc Nhân gọi sông Mai Lung.
Tuy nhiên tên gọi Mai Nương hay Ma Nương đoạn chảy qua thôn Mai Nương/Ma Nương ngày nay ít được nhắc đến và chỉ còn trong một vài kí ức. Cái tên Mai Nương/Ma Nương được chú, phiên âm lại theo tên gọi gốc Cham là Huma-Lanâng có nghĩa là Cánh đồng rộng lớn. Đối chiếu bản đồ địa hình, đoạn sông chảy từ Tân Mỹ, đi qua thôn Ma Nương đổ về cửa biển có mặt sông rộng lớn và tương đối phẳng, tạo thành một vùng đồng bằng rộng lớn.




Tamia juak apuei

 Nếu như điệu tamia tadik (múa quạt), với gập xoè cánh quạt mô phỏng điệu múa chim công (amrak) thì,

ông Ka-ing trong nghi thức múa đạp lửa (tamia juak apuei), với đạo cụ khăn (siap), quạt (tadik). Hai đạo cụ mà ông ka-ing cầm trên tay ấy chính là biểu hiện của hling apuei (ngọn lửa), là hình ảnh của hoa Unmatai (cà độc dược, Datura flower). Tay ông cầm khăn luôn ngay ở giữa sóng lưng khăn, quạt chụm xếp lại cũng như thể ông cầm chùm hoa Unmatai vậy.
Ông, nhập thần, thực hiện điệu múa đạp lửa của shiva kết thúc vòng chu kì cũ để bước sang chu kì mới trong nghi lễ múa đầu năm (Rija nagar).
Cả hình ảnh tamia tadik (múa quạt) và tamia juak apuei (múa đạp lửa) đều liên hệ đến hình ảnh Lửa.







Hling Apuei / Dalah Apuei/ Ánh Lửa (lá/lưỡi lửa)

 Hling Apuei / Dalah Apuei/ Ánh Lửa (lá/lưỡi lửa)

Hình dạng ngọn lửa (hling apuei/dalah apuei) bao chung quanh bộ vòm typan.
Mang một ý nghĩa ngọn lửa huỷ diệt của Shiva, đốt cháy bức màn ảo tưởng của bản thân, loại bỏ những chất độc, sự ganh ghét đố kị khỏi cơ thể, tâm hồn ta.
Ngọn lửa ấy chính là hình dạng loài hoa Datura, tức phun Temun hay Un-matai trong tiếng Cham, là loài Cà độc dược.
Bên trong ngọn lửa (hling apuei/dalah apuei) ấy chính là sự sinh tạo của loài dương xỉ (hambar).
Có thể thấy từng lớp nghĩa được ẩn chứa theo từng lớp chi tiết hoa văn được người xưa đưa vào trong biểu tượng tôn giáo, liên kết đến biểu tượng tự nhiên.
* Shiva nghe lời thỉnh cầu nên đã nuốt lấy chất độc halahala trong cuộc khuấy động biển sữa, ông ngậm lấy chất độc nơi cổ họng mình. Và, loài cây đã sinh ra từ nơi lồng ngực ông. Vì thế, người ta tin rằng loài Unmatai này sẽ làm xoa dịu chất độc mà ông nuốt vào, đồng thời cũng chứa nhiều độc tố từ loài halahala.
P/s: Shiva, ổng từng rủ mình "hút cỏ", giờ ổng còn chỉ điểm đổi vị "hút lá".
Chú ý: Đây là loài cực độc, nên các bạn chớ dại mà hút đu theo.



Tamia Amrak.

 Tamia Amrak.

Múa quạt (tamia tadik)
Trong hệ thống âm nhạc truyền thống của người Cham, múa quạt (tamia tadik) là hình thức múa với đạo cụ (chiếc quạt) được xem là thông dụng, phổ biến, hầu như mọi cô gái Cham nào cũng có thể tham gia vào điệu múa quạt này.
Đạo cụ Tadik (quạt) như hình ảnh chiếc đuôi chim công (amrak), điệu múa tamia tadik mô phỏng điệu múa chim công, vì thế tamia tadik cũng là tamia amrak.




Karah Mata. (Nhẫn Mata)

 Karah Mata. (Nhẫn Mata)

Con mắt soi đường, dẫn lối nhìn thấu cả mặt xấu - tốt, sáng - tối, trong- ngoài,...
Của sự gắn kết hòa hợp, liên minh mạnh mẽ, bền vững.
Là điểm giao của nhật, nguyệt thực.
Từ một biểu tượng ban đầu, Karah Mata dần đã phái sinh, gắn kết thêm vào đó những biểu tượng ý nghĩa được bao hàm trong cái Mata ban đầu.
"Biểu tượng được con người tạo ra cho một mục đích cụ thể. Đa phần mọi thứ ấy được lấy cảm hứng từ tự nhiên xung quanh chúng ta theo một cách nào đó. Việc khám phá/phát hiện ra (ý tưởng) cho một biểu tượng của tự nhiên ấy ra một cách tức thì, nhưng đôi khi là kết quả của kinh nghiệm quan sát.".






Cây Long-não (camphor tree)

 Cây Long-não (camphor tree)

Một biểu tượng của xứ Pangdurangga. Vì được chọn làm cây thần của xứ sở nên thuở ấy đã được trồng khắp vương quốc.







Ong Pa-Sa/Ca — Muk Ca-Klaing/Kain


{(Ông Quay (tơ) — Bà Dệt/nhả(sợi)}
Một ẩn dụ cho tổ nghề dệt truyền thống của người Cham. Là ông-bà nuôi của vua Po Klong Garai , đồng thời cũng là tên làng dệt (Caklaing) Mỹ Nghiệp hiện nay